Monthly Archives: December 2015

Nghệ thuật đọc nhanh và hiệu quả – Phần 2

Phương pháp gõ ngón tay: Tức là cần phải thuộc một nhịp nhất định nào đó rồi vừa gõ vừa đọc. Đây được coi là phương pháp tối ưu nhất để khống chế tiếng thầm. Chú ý: Cả 4 phương pháp trên đều nhằm mục đích giúp ta đọc chỉ bằng mắt loại trừ cách đọc bằng tai và môi. Sau một thời gian luyện đọc, ta có thể đọc không có tiếng thầm trong đầu mà không sử dụng một trong 4 phương pháp trên.
Không ngó lại các đoạn đã đọc qua: Tức là chỉ đọc lại khi đã xong hẳn 1 bài, 1 chương. Do thói quen, ta thường ngó lại các đoạn đã đọc qua một cách tự động và vô thức. Khi đó, không phải lúc nào mắt cũng đưa trúng vào chỗ cần xem lại, rồi đến khi cần tìm lại chỗ cần đọc tiếp cũng vậy. Do đó, tốc độ đọc giảm đi đáng kể. Cố gắng tập trung, không nghĩ đến việc khác trong khi đang đọc.
Tìm những từ, cụm từ quyết định, các ý và mạch logic của các y và cả bài: Trong một bài chỉ cần đọc và nhớ những ý chính và thông tin quan trọng vì chúng chỉ chiếm khoảng 25% nội dung. Của bài, còn khoảng 75% chỉ nhằm bổ nghĩa, giải thích cho các thông tin chính. Nhớ rằng: đọc tức là tìm cho ra các ý chính trong một rừng chữ!. Ghi nhớ ý và tư tưởng của tác giả theo cách của mình: Ghi nhớ không phải là thuộc lòng tất cả các câu riêng biệt mà là rút gọn và mã hóa đơn giản hóa ý của chúng bằng những thuật ngữ và vốn từ riêng của mình. Chỉ nên nhớ những gì đã hiểu. Nếu muốn nhớ lâu thì cần phải và chỉ đọc lại các ý chính ngay sau khi vừa đọc xong.
Tạo ra các ngăn kéo cất giữ dữ kiện: Hãy lập ra các ngăn kéo bằng tưởng tượng theo một thứ tự nhất định để ghi nhớ các dữ kiện chính tìm ra trong khi đọc. Ví dụ: Tên bài – tác giả – năm xuất bản – chủ đề, nội dung – các dữ kiện chính – cái mới, khả năng áp dụng thực tiễn – ý kiến riêng…
Lựa chọn một trong 5 cách đọc phù hợp cho từng đoạn: Hãy đọc với một trong 5 cách đọc đã nêu ở phần đầu với tốc độ thay đổi tùy thuộc mục đích của đoạn đang đọc.
Mở rộng trường quan sát: Cố gắng nắm bắt ngày càng nhiều từ, nhiều dòng trong một lần nhìn. Hãy bắt đầu tập với các cột nhỏ của các tờ báo, sau đó tới các quyển sách khổ nhỏ rồi tới khổ lớn. Có thể dùng bút dẫn mắt theo đường dọc ở trung tâm cố gắng đoán các từ ở 2 bên mép của trang sách. Dần dần, ta sẽ tạo được thói quen đọc theo chiều dọc trang giấy. Mới đầu chỉ cần nhớ nội dung chung chung, sau sẽ nhớ được chi tiết hơn. Đây là nguyên tắc quan trọng và tốn nhiều công phu luyện tập của nghệ thuật đọc nhanh!
Tập hàng ngày mỗi khi cầm quyển sách trên tay hay mỗi khi có thể: Mới đầu đọc khoảng 2 tờ báo, 1 tạp chí chuyên môn mà bạn thích mỗi ngày, sau tăng thêm 10 đến 100 trang sách mỗi ngày.
Tạo một tâm trạng thoải mái, thích thú mỗi khi đọc: Hãy làm như việc đọc hàng ngày như là một trò chơi trí tuệ, một nhu cầu lý thú! Hãy đọc loáng thoáng cách 4 các phần chữ in đậm hoặc gạch đít, là những thông tin bạn cần nhớ, còn lại chỉ bổ nghĩa, giải nghĩa thêm! Chắc chắn bạn sẽ hiểu và nhớ kỹ hơn toàn bộ nội dung của bài này. Như vậy, các bạn đã biết cách làm thế nào để có thể đọc nhanh hơn, hiệu quả hơn. Hãy luyện đọc nhanh để kịp nắm bắt các thông tin bổ ích đang rất nhiều xung quanh bạn. Hãy trở thành giàu có về kiến thức và biến chúng thành vật chất có lợi cho mình và cho mọi người! Chúc bạn thành công!.
BS Nguyễn Văn Dũng- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Nghệ thuật đọc nhanh và hiệu quả – Phần 1

Đọc là điều kiện quan trọng nhất để hình thành các khả năng tư duy là một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ, là công cụ mà con người thông qua sự xử lý thông tin trong ấn bản để nhận được kiến thức và là cách tự đào tạo mình tốt nhất để vượt trên khuôn khổ bằng cấp hiện có. Mặc dù hiện nay các phương tiện nghe nhìn phát triển mạnh nhưng các kiến thức cụ thể mà chúng ta nhận được vẫn nhờ đọc sách là chủ yếu. Thời đại bùng nổ thông tin với số lượng khổng lồ các ấn bản đủ loại, đủ lĩnh vực ngày càng tăng và sự hiếm hoi thời gian đòi hỏi việc đọc càng phải được chọn lọc, nhanh và hiệu quả. Tuy nhiên, phần đông con người hiện đại vẫn dọc với tốc độ không hơn cha ông trước đây bao nhiêu. Chính vì vậy, nhu cầu đọc nhanh trở thành một nhu cầu bức thiết đối với mỗi người: từ học sinh phổ thông đến ông viện sĩ, từ những người công nhân đến vị thủ tướng… Trước tiên, ta làm quen với 5 cách đọc mà chúng ta sẽ phải sử dụng thường xuyên:
Đọc kỹ: Trong cách đọc này, ta tập trung lên các chi tiết, đồng thời đánh giá, phân tích chúng. Cách đọc này tuy chậm nhưng được coi là tốt nhất với các tư liệu về một đề tài mới mẻ hoặc với bảng biểu, số liệu.
Đọc chọn lọc: Tức là đọc kỹ chỉ những phần, những chương xét thấy cần thiết. Cách đọc này thường được sử dụng khi đã đọc qua một lần. Nó được các sinh viên sử dụng nhiều nhất khi ôn thi.
Đọc lướt qua: Tức là chỉ đọc lướt nhanh các phần chính như phần giới thiệu, mục lục, kết luận với mục đích tìm hiểu nội dung của một quyển sách, một tài liệu mới nào đó.
Đọc loáng thoáng: Tức là đọc lướt nhanh trên từng trang giấy với mục đích tìm những tên, những từ và sự kiện cần thiết hoặc khi cần nhớ lại các ý chính đã được đánh dấu sẵn trong lần đọc trước.
Đọc nhanh: Là cách đọc mà chúng ta sẽ nghiên cứu và ghi nhớ kỹ dưới đây. Sau đây là 10 nguyên tắc vàng của nghệ thuật đọc nhanh: Đọc không có tiếng thầm trong đầu: Đây là kẻ thù chính của cách đọc nhanh Tiếng thầm được hiểu là tiếng nói trong đầu, không thành tiếng nhưng thường cùng tốc độ như khi đọc thành tiếng. Có 4 phương pháp khống chế tiếng đọc thầm sau: Phương pháp cơ học: Ví dụ như dùng răng cắn nhẹ vào lưỡi, cắn một đồ vật nào đó trong miệng, nhai kẹo cao su… Phương pháp này chỉ hạn chế tiếng thầm trong một mức độ nào đó hữu hạn.
Phương pháp đưa mắt nhanh: Dùng tay cầm bút đưa mắt lướt trên các dòng chữ theo một tốc độ nhanh hơn hẳn lúc đọc thành tiếng, cố gắng tăng dần tốc độ đưa tay đến tối đa khi mắt còn kịp dõi theo mà ta vẫn hiểu và tìm thấy những từ hoặc cụm từ chính yếu. Phương pháp gây nhiễu bằng lời nói: Tức là miệng đọc thành tiếng một câu nào đó quen thuộc, một bài thơ, bài hát đã thuộc nằm lòng hay đếm thành tiếng từ 1 đến 5 liên tục trong khi chỉ có mắt vẫn dõi theo bài đang đọc (đọc chỉ bằng mắt).
BS Nguyễn Văn Dũng- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Dùng mỹ thuật chữa bệnh tim – Phần 3

Rồi ông đưa ra một lời tuyên bố làm mọi người kinh ngạc. Ông sẽ trưng bày bức tranh trong cuộc triển làm mùa hè tại phòng trưng bày Lathrop. Phòng trưng bày Lathrop là cuộc triển lãm mỹ thuật lớn nhất trong năm, nếu không về khối lượng thì về chất lượng. ước mơ cuộc đời của mọi họa sĩ tầm cỡ ở Hoa Kỳ là được nhận giải thưởng của cuộc triển lãm này. Vậy mà giữ tác phẩm của đám họa sĩ tài ba này ông Collis P. Ellsworth sắp bầy bức “Những cái cây khoác y phục trắng” của ông, nó giống như một vốc nước sốt xà lách ném mạnh lên sườn một ngôi nhà. Y tá Koppel nói, “Nếu báo chí nghe được tin này, toàn thành phố sẽ cười ông Collis P. Ellsworth. Chúng ta phải can ông ấy ngay”. Nhưng bác sĩ bảo, “Không được. Bây giờ chúng ta không thể can thiệp vào việc của ông ấy được, làm như thế sẽ có nguy cơ bao kết quả, chúng ta đã đạt được tan thành mấy khói”. Vậy mà thật là điều sửng sốt của cả ba người, đặc biệt là cậu sinh viên Swain, bức “Những cái cây khoác y phục trắng” được nhận vào tham gia triển lãm của phòng tranh Lathrop. Không chỉ một mình ông Collis P. Ellsworth điên rồ, y tá Koppel nghĩ, mà cả phòng trưng bày Lathrop cũng điên rồ. May mà bức tranh được treo ở vị trí không lộ liễu cho nên không tạo nên dư luận nào đặc biệt. Một buổi chiều chàng sinh viên lén vào phòng triển lãm và xấu hổ hết sức khi nhìn thấy bức “Những cái cây khoác y phục trắng”, một bức tranh huênh hoang và kệch cỡm treo trên bức tường lẽ ra để treo những tác phẩm đẹp vài hài hòa. Lúc nghe thấy hai sinh viên cười rộ lên và dừng lại, trước bức tranh quái đản, Swain vội vã bỏ chạy ra ngoài. Cậu không chịu nổi những câu họ nói. Trong thời gian cuộc triển lãm mở cửa, ông già Collis P. Ellsworth vẫn tiếp tục học vẽ, thỉnh thoảng mới nhắc đến bức tranh của ông trong đó. Ông đặc biệt hồ hởi. Mỗi lần Swain vào phòng, cậu đều nghe thấy ông Collis P. Ellsworth cười vang một mình. Không chừng anh y tá Koppel nói đúng, ông già đã mất trí. Nhưng điều quái đản nữa là Hội đồng Lathrop lại khuyến khích sự điên rồ của ông ta bằng việc họ chấp nhận bức tranh vào triển lãm. Hai ngày trước khi triển lãm đóng cửa, một phái viên đặc biệt đem đến một phong bì dài, vẻ chính thức, trao cho ông Collis P. Ellsworth, trong lúc Swain, Koppel và bác sĩ đang có mặt trong phòng. Ông già Collis P. Ellsworth nói, “Đọc hộ tôi, mắt tôi đang mỏi vì vẽ nhiều quá”. “Phòng trưng bày Lathrop rất hân hạnh được tuyên bố rằng giải nhất trị giá là 1 trăm đô la được cho ông Collis P. Ellsworth, tác giả tác phẩm sơn dầu “Những cái cây khoác y phục trắng”. Swain và Koppel sửng sốt đến nỗi họ há hốc miệng, không thốt lên được một lời nào. Bác sĩ, sử dụng tối đa khả năng tự kiềm chế trong nghề nghiệp nói, “Xin chúc mừng ông Collis P. Ellsworth. Hay quá… Ra thế tất nhiên tôi hoàn toàn bất ngờ trước tin mừng này. Nhưng như vậy là bây giờ ông phải thừa nhận hội họa là thứ có tác dụng hơn nhiều so với mua bán, kinh doanh”. Ông già lạnh lùng nói, “Chuyện này không dính đến hội họa. Phòng trưng bày tranh Lathrop tôi đã mua từ tháng trước”.
Vũ Đình Phòng- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Dùng mỹ thuật chữa bệnh tim – Phần 2

“Ông cứ thử vẽ xem, thưa ông Collis P. Ellsworth”. “Hừm! Ông già cầm bút chì vào bàn tay run rẩy rồi vạch mấy nét. Ông vẽ thêm vài nét nữa rồi nối chúng lại với nhau một cách thô thiển. “Đấy, cậu xem”, ông nói, giọng hài lòng. “Đúng là điên rồi” Frank Swain vẫn nhẫn nại. Cậu đang cần kiếm năm đô la. “Nếu ông muỗn vẽ cái gì, ông cần nhìn kỹ cái đó, thưa ông”. Ông già Collis P. Ellsworth ngắm nghía. Lạy chúa, cái chậu này đẹp đấy. Trước đây tôi không nhận thấy. Y tá Koppel vào, báo tin bệnh nhân học buổi đầu như thế đã là đủ, “Ôi, lại nước mắt, “ông già Collis P. Ellsworth nhăn mặt nói. Swain ra về.
Tuần lễ sau, khi chàng sinh viên mỹ thuật đến, trên bàn đã có một hình vẽ hơi giống cái chậu. Những vết nhăn ở đuôi mắt ông già hằn xuống, “Cậu thấy thế nào?”. Được đấy, thưa ông, Swain đáp. “Nhung chưa giống lắm”. “Lạy chúa”, ông già Collis P. Ellsworth cười, “Tôi biết. Hai bên không cần nhau”. Ông vẽ thêm vài nét bằng bàn tay run rẩy rồi tô mà xanh lên khoảng trống như trẻ con tô màu lên vở tô màu vậy. Rôi ông nhìn ra cửa. Ông nói thầm, “Tôi muốn hỏi cậu điều này trước khi họ đem nước dứa đến”. “Vâng, thưa ông”, Swain lễ phép đáp. “Tôi đang nghĩ, liệu cậu có thể đến mỗi tuần hai lần, thậm chí ba lần được không?”. “Dĩ nhiên là được, thưa ông Collis P. Ellsworth”. “Tốt. Vậy ta tiến hành vào thứ hai, thứ tư và thứ sáu. Bốn giờ chiều”. Y tá Koppel vào, rất ngạc nhiên thấy bệnh nhân ngoan ngoãn uống nước dứa, không hề cằn nhằn. Các tuần lễ trôi qua, số buổi Swain đến tăng lên. Cậu đem đến cho ông già một hộp màu nước và một số tuýp sơn dầu. Khi bác sĩ Caswell đến, ông già Collis P. Ellsworth kể về những đường nét thanh tú của ống khói lò sưởi. Ông còn nói về sự phong phú sắc màu của cái bát đựng hoa quả. Ông khoe những cho người hầu đem nói đi giặt. Ông muốn để bác sĩ thấy ông đã làm việc vất vả như thế nào. Việc điều trị tiến triển rất tốt. Bệnh nhân không còn đòi đến văn phòng của ông ở dưới phố mua một doanh nghiệp nào đó để rồi sẽ thua lỗ. Cũng không còn những kế hoạch tài chính điên rồ tác hại vào trái tim già yếu. Mệt mỏi của ông. Mỹ thuật là phương thuốc đầy đủ đối với ông. Bác sĩ Caswell cho rằng đã có thể yên tâm cho ông già Collis P. Ellsworth đi thăm Bảo tàng quốc gia, bảo tàng Mỹ thuật hiện đại và những cuộc triển lãm hội họa khác nhau với Swain. Cả một thế giới mới mẻ mở ra, cho ông già thấy bao điều bí ẩn. Ông tỏ ra quan tâm ghê gớm đến các phòng trưng bày tranh và các họ sĩ có tranh trưng bày ở đó. Các phòng trưng bày đó hoạt động ra sao? Ai lựa chọn tranh để trưng bày? Trong óc ông hình thành một ý định. Khi mùa xuân tàn bắt đầu nhuộm sắc màu lên đồng ruộng, vườn tược, ông già Collis P. Ellsworth vẽ một bức tranh thực quái đản, đặt tên là “Những cái cây khoác y phục trắng”.
Vũ Đình Phòng- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Dùng mỹ thuật chữa bệnh tim – Phần 1

Mời ông uống nước dứa, y tá Koppel nhẹ nhàng năn nỉ. Không, ông già Collis, P. Ellswirth nói kiên quyết. Nhưng thứ nước quả tươi này rất tốt cho ông. Không. Đây là lệnh của bác sĩ. Không. Koppel! Nghe thấy tiếng chuông ngoài cửa và anh mừng rỡ được ra khỏi gian phòng này. Anh gặp bác sĩ Caswell ở hành lang dưới nhà. Anh nói với ông, “Bệnh nhân không chịu nghe tôi. Ông ta không chịu uống nước dứa. Ông ta muốn tôi đọc sách báo cho ông nghe. Ông ta căm ghét nghe đài. Ông ta không thích thứ gì hết!”. Bác sĩ Caswell tiếp nhận thông tin với thái độ điềm tĩnh quen thuộc trong nghề y. Sau lần thăm bệnh gần đây nhất, ông đã suy nghĩ khá nhiều. Đây là một trường hợp hiếm thấy. Ông già giàu có này sức khỏe như vậy là tốt đối với cái tuổi bảy mươi sáu. Nhưng ông ta cần được ngăn chặn không cho mua bán thứ gì. Sau sai lầm tai hại mua tuyến đường sắt nhỏ lowa, ông ta bị nhồi máu cơ tim. Cơn nhồi máu trước đó là đó uất giận về thất bại của mạng lưới cửa hàng tạp phẩm ông đã mua với giá rất cao. Tất cả các vụ mua doanh nghiệp này khác của ông Ellssworth trong những năm gần đây đều phải bán tống bán tháo, ảnh hưởng tồi tệ đến cả sức khỏe lẫn túi tiền của ông. Mặc dù ông vẫn còn giàu nhưng sức khỏe ông đã bắt đầu bộc lộ tác động nghiêm trọng của các doanh vụ này. Collis P. Ellsworth ngồi trong chiếc ghế bành khổng lồ bên cửa sổ. Mắt ông nhìn lơ đãng lúc bác sĩ Caswell hỏi, “Ông bạn hôm nay thấy trong người thế nào?”. Hừm! người ngồi trong ghế đáp, giọng khó chịu. Bác sĩ nói, “Nghe bảo ông không chịu tuân theo chỉ dẫn của thầy thuốc?”. “Đến tuổi này mà còn ai chỉ dẫn cho tôi được?”. Bác sĩ kéo ghế đến ngồi cạnh ông già. “Tôi nghĩ ra một thứ thử đề ra với ông”, bác sĩ bình thản nói. Ông già Collis P. Ellsworth ngước cặp mắt nghi ngờ nhìn lên trên cặp kính. Thứ gì? Thêm thuốc, thêm dạo chơi trong xe hơi, thêm những trò ngu xuẩn để tôi phải ngừng công việc kinh doanh chứ gì?”. “Hay ông tập vẽ xem sao?” Bác sĩ đã cầm sẵn ống nghe, phòng trường hợp lời gợi ý quá đột ngột đối với trái tim người bệnh. Nhưng câu hỏi trả lời của ông chỉ là một câu gắt “Ngu xuẩn!”. “Ý tôi đây không phải là tập vẽ thật sự”, bác sĩ nói, thở phào thấy không xảy ra chuyện gì. “Chỉ là để ông giải trí bằng phấn và bút chì màu. Trò chơi này sẽ làm ông vui đấy”. “Điên rồi!”. “Thôi được”. Bác sĩ đứng dậy. “Tôi chỉ gợi ý thế thôi”. Ông già Collis P. Ellsworth ngừng lại một chút. Những nếp nhăn trên trán hằn sâu thêm một chút. “Mà sao tự nhiên ông lại nảy ra cái ý điên rồi ấy? ông bác sĩ?”. “Tôi đã bảo chỉ là một gợi ý thôi mà”. “Bác sĩ Caswell, nhưng sao ông lại tiêu khiển bằng phấn, ý tôi muốn nói là đầu óc tôi đâu có điên rồ để làm thứ đó?”. “Tôi cũng đã suy nghĩ về chuyện đó. Tôi có thể kiếm một cậu sinh viên trường mỹ thuật mỗi tuần đến đây một lần bầy cho ông. Nếu sau ít buổi, ông vẫn không thấy thích thì ông tống cổ cậu ta đi”. Bác sĩ Caswell đến gặp người bạn, ông Judson Livingston, Hiệu trưởng Học viện mỹ thuật Atlantíc, kể hoàn cảnh. Ông Livingston có ngay đúng chàng trai đó. Frank Swain, mười tám tuổi, là sinh viên loại giỏi. Cậu ta đang cần tiền. Hiện giờ Swain đang phải trông thang máy buổi tối để có tiền ăn học. Cậu ta sẽ được trả bao nhiêu? Mỗi lần năm đô la. Được lắm. Chiều hôm sau, Swain được đưa vào phòng khách thênh thang. Ông già Collis P. Ellsworth nghi ngờ nhìn cậu. “Thưa ông, tôi chưa phải họa sĩ”, cậu trả lời. Hừm!. Swain bầy giấy và bút chì màulên bàn. Ông hãy thử vẽ cái chậu kia”. Câu gợi ý. “Để làm gì? Đó chỉ là cái bát với mấy vệt xanh lam bên ngoài. Hay xanh lục nhỉ?”.
Vũ Đình Phòng- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Hành tinh

Lần đầu tiên trên thế giới Vương quốc Na Uy đã chế tạo và đưa vào sử dụng hệ thống điện thoại di động qua vệ tinh. Hệ thống này cho phép thực hiện tất cả các cuộc nói chuyện tự động với bất kỳ một vị tí nào trên hành tinh. Thiết bị kỹ thuật mới này có kích thước chỉ to hơn một cuốn sách và nặng vẻn vẹn có 2 kg nhưng lại giúp con người có thể liên lạc được với nhau ở bất kỳ khoảng cách nào trên trái đất, dù là ở Nam bán cầu, ở sa mạc Sahara hay trên đỉnh Thiên Sơn. Người sáng chế ra thiết bị điện thoại kỳ diệu này là công ty Na Uy “Nera” phối hợp cùng với các công ty vô tuyến viễn thông khác của Anh, Niu Di Lân và hệ thống vệ tinh quốc tế Inmarsat. Hiện nay hệ thống Inmarsat đang được sử dụng để bảo đảm an toàn cho giao thông đường biển quốc tế. Theo lời ông Hell North phụ trách dự án chế tạo hệ thống điện thoại di động qua vệ tinh nói trên sẽ có 4 vệ tinh nhân tạo tham gia trong hoạt động liên lạc này. Hai vệ tinh của Inmarsat đang nằm trên quỹ đạo vào mùa xuân năm 1997 này. Và khi đó hệ thống liên lạc điện thoại di động qua vệ tinh trên phạm vi toàn thế giới sẽ được đưa vào sử dụng với mục đích thương mại. Vùng hoạt động của 4 vệ tinh trên sẽ trùng lên toàn bộ diện tích mặt đất và phủ sóng cho tất cả mọi vị trí của hành tinh giúp cho việc liên lạc bằng điện thoại tự động diễn ra vô cùng nhanh chóng và thuận lợi. Bản thân chiếc máy điện thoại vệ tinh giống như một máy fax gọn gàng. Nắp đậy cả máy chính là ăng ten liên lạc với vệ tinh. Việc sử dụng chúng cũng hết sức dễ dàng. Khi ăng tên và vệ tinh nối được với nhau, trên màn hình nhỏ sẽ hiện lên tín hiệu sẵn sàng cho việc liên lạc. Lúc đó bạn chỉ việc bấm số điện thoại cần gọi bù lại ở bất kỳ điểm nào trên thế giới. Thế là cuộc nói chuyện bắt đầu. Loại điện thoại trên còn có thể được sử dụng như một máy fax và con để truyền các thông tin từ màn hình computer. Điện thoại di động vệ tinh làm việc nhờ thiết bị ắc quy khô có thể giúp máy hoạt động liên tục trong 2,5 giờ. Ắc quy này có thể nạp từ ắc quy ô tô. Giá thành của điện thoại di động vệ tinh lại rất rẻ, khoảng 4 nghìn đô la mỹ, và giá thành một phút nói chuyện vào khoảng 3 đô la Mỹ. Cho đến nay các máy điện thoại di động cầm tay thông thường chỉ sử dụng được cho các cuộc nói chuyện trên lãnh thổ châu u, trên phần lớn lãnh thổ Mỹ và Nam Canada, ở vùng Mỹ La tinh. Các khu vực còn lại của thế giới, dù là trên biển hay trên đất liền, các máy điện thoại di động cầm tay hiện nay không với tôi được. Sản phẩm mới nhất của công ty Nera sẽ giúp con người khắc phục được những khoảng cách còn lại.
D.A- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Ông vua chạy Ma – ra – tong không có đối thủ – Phần 2

Chuyến đi huyền thoại thứ hai xảy ra vào năm 1833, lúc ông 38 tuổi. Hành trình ông vạch ra là chạy từ Munxen đến Naupil, thủ đô Hy Lạp mới được giải phóng lúc bấy giờ. Ông mang theo thư từ, tài liệu của vua Louis đệ nhất xứ Bavaria trao cho con trai của ngài Ottô đệ nhất, vua Hy Lạp. Ngày 6 tháng 6, ông rời lâu đài Nymphenburg bắt đầu lên đường trước sự chứng kiến của một đám đông gồm hai vạn người nhiệt liệt hoan tiễn ông. Do địa hình hiểm trở trên đường đi và gặp những tai nạn, bất trắc không lường được, chuyến đi này của ông tiền bạc, bản đồ, địa bàn và đồng hồ. May mà thư từ, tài liệu của nhà vua giao ông phải chuyển là con nguyên vẹn. Lần mò đến thành phố Cattarô, ông tìm được chỗ trọ, kiếm được bản đồ và một chiếc địa bàn rồi lại tiếp tục chạy. Nhưng xui xẻo, lúc đến xứ Tamina, ông lại bị bắt vì người ta nghi ngờ ông là gián điệp. Sau ba ngày ngồi tù, ông được viên tổng trấn xứ này thả ra để rồi lại lên đường… Ngày 1 tháng 7 năm 1833, ông đến Naupli vào hoàng cung trình diện, nộp thư từ cho vua Ôtto đệ nhất và lĩnh món tiền thưởng 1 nghìn glin đơ. Như vậy, ông đã chạy 2.700 km trong 24 ngày, nhưng nếu không bị cướp, bị bắt giữ dọc đường mất 4 ngày thì tính ra ông chỉ chạy trong vòng có 20 ngày. Nếu không có báo chí đương thời tường thuật lại thì khó mà tin nổi cuộc chạy thần kỳ này. Tiếp đó là cuộc chạy không tiền khoáng hậu thứ ba của Ernst. Lần này công ty Đông Ấn của một số nhà buôn Anh thuê ông 150 bảng để chuyển những tài liệu quan trọng từ Conxtantinốp đi Cancutta. Ông lên đường ngày 28 tháng 7 năm 1836, dự định chuyến đi trong 6 tuần nhưng thực tế, ông chỉ chạy có 4 tuần, theo con đường qua Anatoli và xuyên suốt miền Bắc Ấn Độ. Lúc trở về, ông chạy mất 28 ngày bằng cách đi quá lên phía Bắc, xuyên qua Ba Tư đến biển Caxpiên, qua Teheran và Tabriz rồi đến biển đen. Tính ra ông đã chạy 8.300 km trong 59 ngày, trung bình mỗi ngày 150 km. Báo chí cùng thời ca ngợi hết lời cuộc chạy ly kỳ chinh phục châu Á của ông. Theo những chuyển sách và vô số bài báo viết về ông, ta được biết vì sao Ernst có thể thích nghi với những điều kiện cực kỳ gian khổ mà ông phải đương đầu trên những chặng đường dài không hình dung nổi: Nắng như thiêu, mưa như trút, gió rét thấu xương. Cái chính là ông đã tuân theo một nếp sống thanh đạm và duy trì nó suốt đời. Ăn uống đơn giản, thường là bánh mì, pho mát, rau và đôi lúc một ít thịt nguội. Ông ngủ ngoài trời để quen sương gió, nếu phủ trong nhà thì nằm phản cứng để giữ cho các khớp xương mềm dẻo. giường nệm êm ái là thứ tiện nghi xa lạ với ông. Dù sao, con người sống cực kỳ khắc kỷ này cũng có nhược điểm là thích rượu, vừa chạy vừa tu cả chai, nhưng không sau. Năm 1837, một bá tước giàu có người Đức là Von Puckler Muskau sang thăm Hy Lạp, tỏ ra thích thú với môn chạy sau khi xem chạy Ma – ra – tong và được nghe kể về những kỳ tích của Ernst bốn năm trước đó. Ngài tìm gặp ông vua chạy, trở thành người bảo trợ của ông và đề nghị ông đi thám hiểm thượng nguồn sống Nin. Ngày 11 tháng 5 năm 1842, ông rời lâu đài bá tước ở miền Xilêđi thuộc Phổ, vượt qua Conxtantinốp rồi đến Giêrusalém sau 30 ngày. Sau đó, ông chạy thêm 500 km đến Cairo, ông đi xuống miền Nam, ngược dòng sông Nin. Không may, dọc đường ông bị bệnh lị, sức khỏe suy sụy và mất ngày 22 tháng 1 năm 1843 giữa sa mạc gần Thebes phía Bắc Atxuan thuộc Đông nam Ai Cập. Thật không ngờ chuyến đi thứ tư này lại là chuyến đi cuối cùng của nhà Ma – ra – tong vĩ đại. Cho đến ngày nay gần hai thế kỷ trôi qua, nhắc đến sự nghiệp huyền thoại của ông, người ta vẫn cho rằng thế giới loài người chưa hề gặp lại một lực sĩ chạy đường trường kỳ lạ như Mensen Ernst.
Hoàng Nguyên Kỳ – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Ông vua chạy Ma – ra – tong không có đối thủ – Phần 1

Chạy là môn thể thao được nhiều người ưu thích. Dẫu không sôi nổ và hấp dẫn bằng bóng đá, nhưng ưu thế của nó là cùng một lúc, trong một cuộc như chạy việt dã, có hàng trăm, hàng nghìn người tham gia chứ không chỉ là cổ động viên là khán giả hoan hô cô vũ ngoài. Thường người ta chỉ nhắc đến những tê tuổi lẫy lừng như Emil Zatopek, Paavo, Nurmi, Abede Bikila, Grethe Waitz… Nhưng không mấy ai biết, cách đây non hai trăm năm, có một người Na Uy tên là Mensen Ernst đã là ông vua chạy vĩ đại đã lập nên những kỳ tích cho đến bây giờ không có ai sánh nổi. Mensen Ernst sinh năm 1795, con một trong gia đình nông dân nghèo ở Leikanger trên bờ vịnh Sogne. Lên 15 tuổi anh đến thành phố Bergen rồi trở thành thủy thủ lênh đênh trên biển cả. Năm 1813, tại Mũi Hảo Vọng, cực Nam châu Phi, trong một cuộc thi chạy, ông đã thắng và đoạt giải lần đầu. Vốn tính thích chu du phiêu bạt, chàng thủy thủ đặt chân hầu khắp nơi của năm châu lục, rèn luyện cho mình những đức tính cần thiết của một khách giang hồ trải qua nhiều thử thách trong những cuộc phiêu lưu táo bạo. Năm 1818, ông đến Luân Đôn. Ở đây, chàng trai 23 tuổi trở thành người làm nghề chạy thuê chuyên nghiệp để kiếm sống. Hai cuộc chạy quan trọng đầu tiên của ông diễn ra vào mùa xuân 1819. Cuộc đầu tiên, ông chạy từ Luân Đôn đến Porxmớt dài 116 km hết 19 giờ. Cuộc sau, chạy từ Luân đôn đến Livơpun dài 240 km trong 32 giờ. Đó là những thành tích rực rỡ đầu tiên đem vinh quang đến với ông. Dẫu thế, ông không thôi nhớ lục địa nên năm 1820, ông rời Anh Quốc, vượt biển Măng sơ, đi bộ đến Munhaoxen thuộc Đông Phổ, nay là cộng hòa liên bang Đức. Ở đây, ông mở rộng quan hệ và gặp nhiều bạn bè thân thiết. Từ đấy theo bước chân ngang dọc khắp châu u, tiếng tăm của lực sĩ chạy kỳ lạ này lan đi nhanh chóng. Năm 1826, Ernst tổ chức một cuộc chạy biểu diễn tại Copenhaghen thu được khá nhiều tiền, trong đó có món tiền thưởng là 100 đô la của vua Đan Mạch. Với đôi chân chạy bô, ông đi du lịch nhiều nơi, am hiểu các nền văn hóa và phong tục tâpj quán nước ngoài nhờ biết nói nhiều thứ tiếng: Pháp, Đức, Anh, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ… Cuối cùng, ông nghiễm nhiên trở thành công dân quốc tế. Nhưng số mệnh trớ trêu là đất nước quê hương Na Uy của ông chưa bao giờ được thấy ông biểu diễn tài năng hiếm có của mình. Năm 1832, Ernst đến Pari, với sự giúp đỡ của bạn bè, tổ chức một cuộc chạy phi thường từ Pari đến Maxcơva. Theo thỏa thuận nếu đến thủ đô Nga trong 15 ngày, ông sẽ được nhận 3.800 phrăng. Rời Pa ri ngày 11 tháng 6, ông chạy, ông chạy… Và theo cuốn sách Đức viết về ông năm 1838, ông nói: “Tôi cảm thấy mình ở trong một tình thế không thể tháo lui. Người ta nhìn thấy tôi chạy và cho rằng tôi là thằng điên hay một kẻ bị ma ám”. Ngày 18 tháng 6, vượt sông Vixla, qua suốt Ba Lan, ông tới Matxcova sớm hơn dự kiến một ngày. Quãng đường dài 2 nghìn km, trung bình ông chạy mỗi ngày hơn 170 km. Chuyện buồn cười đã xảy ra Matxcơva đã chuẩn bị đón tiếp ông nhưng vì ông đến trước một ngày trong bộ quần áo rách bươm nên thoạt đầu người ta tưởng lầm ông là gã ăn mày. Từ Matxcova trở về Pari, Ernst trở thành vị anh hùng trước những đám đông cuồng nhiệt đón chào ông. Đó là hành trình lớn thứ nhất.
Hoàng Nguyên Kỳ – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Các bon giống như bóng đá!

Cho đến cách đây không lâu, trong sách giáo khoa dùng cho nhà trường vẫn có thể tìm thấy thông tin khẳng định rằng, các bon là nguyên tố có ở hai dạng. Thứ nhất – grafit (chì), thứ hai – kim cương. Sự khác biệt cấu trúc bên trong của chúng không chỉ ở hình dạn bên ngoài, mà cả độ bền. Về phương diện thứ hai, kim cương gần như vô địch, còn grafit thì mềm đến mức thậm chí để lại một phần cơ thể của mình trên giấy viết. Tất cả là do sự sắp xếp các nguyên tử khác nhau. Với kim cương, mỗi nguyên tử điều liên kết chặt chẽ với cả mạng còn lại. Với chì, là các mặt phẳng lỏng lẻo.
Các bon hình … trái bóng
Năm 1985, các giáo sư Robert F. Carl, giáo sư Richard E. Smalley ở trường đại học tổng hợp Houston – Mỹ và giáo sư Harold W. Kroto ở trường Đại học Tổng hợp Sussex (Brighton Anh), với sự giúp đỡ của hai nhà khoa học trẻ mới bảo vệ bằng tiến sĩ hóa học (J. R. Heath và S.C.O Brien), suốt 11 ngày, bằng tia la de, đã bắn phá nguyên tố các bon trong thiết bị được cách ly bằng khí Hê li. Họ muốn tạo những điều kiện hệt như trong khoảng không vũ trụ. Những nguyên tử các bon bị bắn vỡ bởi tia la de đã tìm đến thiết bị bỏ ngỏ được làm lạnh gần đến độ không tuyệt đối. Ở đó, khi nguội lạnh, chúng tạo nên những hình khối dị thường: Chúng tự cấu kết với nhau thành những nguyên tố chưa từng có trước đó, mỗi nguyên tố gồm đúng 60 nguyên tử. Sau đó, tùy thuộc sự điều chỉnh phản ứng, có thể thấy những mối liên kết bao gồm nhiều nguyên tử các bon hơn như 70 (giống hệt trái bóng bầu dục), 76, 78, 84 và thậm chí là 960. Cơ chế tạo nên những nguyên tố các bon lớn như thế cũng dễ hiểu. giáo sư Smalley và Kroto thừa nhận rằng, tia la de vặt từ chì từng lớp keo các bon, trong khi bản thân nó như sợi chỉ cứ buộc dần, tạo thành quả bóng có 6 góc. Tuy nhiên, không ai lý giải được vì sao lại có 60 nguyên tử không hơn, không kém. Những mô hình nguyên tố xuất hiện trong phát minh được dán kín bằng kẹo cao su và băng dính – giáo sư Robert F. Curl kể lại. Lời giải tình cờ xuất hiện trong đầu giáo sư Smalley vào một buổi sáng tháng 8 năm 1985. Ông nghĩ rằng, những nguyên tử các bon tự giam mình, tạo nên nguyên tố làm chúng ta liên tưởng đến quả bóng đá. Giống như vòm hình cầu trong kiến trúc mang tên vòm geodezi do nhà thiết kế Mỹ Richard Buckminster Fuller đặt tên cho các cấu trúc vòm. Với 6 nguyên tố các bon mới, các nhà phát minh đặt tên là Fulleren
Các bon còn biết làm gì?
Mới đây, các nhà khoa học nghiên cứu Fulleren còn phát hiện ra họ hàng gần gũi của nó là nanoruki. Chúng xuất hiện, khi băng các bon 6 cạnh không tự giam mình trong cấu trúc hình cầu, mà phát triển thành hình … ống. 15 năm trước các thí nghiệm với Fulleren, hai nhà bác học Nhật – Eosawa và Z. Yoshida cũng từng nghiên cứu vấn đề này. Song vì những cuốn sách của họ với các mô hình toán học về Fulleren chỉ xuất bản độc nhất bằng tiếng Nhật. Nên thế giới không nhiều người biết và hai nhà phát minh từ bỏ công trình, thậm chí, họ còn xác định được màu sắc như màu vàng của nguyên tố C60 này.
C60 có tác dụng gì?
Từ lúc nhận mặt được C60, giới công nghệ thế giới đã đổ hàng trăm triệu đô la Mỹ cho việc sử dụng nó vào nền sản xuất. Fulleren trở thành nguyên liệu không thể thiếu trong công nghệ tổng hợp những nguyên tố hóa học hữu cơ và vô cớ mới cũng như nhiều nguyên liệu chưa từng biết đến. Với Fulleren là tương lai sản xuất thế hệ vật liệu bán dẫn mới những hợp chất dẫn điện không có vật cản và nhiều vật liệu siêu phàm khác. Ngay bây giờ đây, các nhà khoa học đã làm chủ nghệ thuật đưa vào nhân Fulleren nguyên tử của một số kim loại và một số nguyên tố hóa học sẽ được sử dụng như thuốc chữa bệnh đặc hiệu. Nhóm các nhà khoa học thuộc trường Đại học California do giáo sư F. Wudl chỉ đạo còn dùng Fulleren chế tạo thành công thuốc chống AIDS. Theo kết quả ban đầu, nó có tác dụng kìm hãm sự phát triển hai trong số enzim quan trọng của vi rút HIV.
KS Trần Văn Đôn – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Chưa có tín đồ – Phần 2

“Excellent! Excellent!” không ít thích giả mũi lõ đã vỗ tay đôm đốp và kêu lên như thế khi các nhạc công Jazz Việt Nam kết thúc một bản hợp ca ầm ỹ và loảng xoảng theo lối điệu nghệ. Có phải âm nhạc nhà hàng đang đánh cắp nhiều tài năng Việt Nam? Một tờ báo tuần của nước ta vừa lên tiếng. Hai năm gần đây, các vũ trường, khách sạn đã lôi kéo được nhiều ca sĩ, nhạc công của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, Nhạc viện Hà Nội… và thực đơn của mình, lấy dần những nhiệt tình và hơi sức mà lẽ ra họ phải dành cho các buổi nhạc hội lớn. Con đường duy nhất cho sự phát triển của mọi thể loại nhạc là sáng tạo. Riêng với nhạc công Jazz, mong ước Jazz phát triển và gần gũi hơn nữa với bạn trẻ Việt Nam là hoang tưởng nếu họ chỉ khuấy động ở những góc nhỏ sang trọng phục vụ cho người ngoại quốc. Tôi đã có cuộc trao đội xung quanh thể loại nhạc Jazz và tương lai của nó với tưởng nhóm Quốc Trung và cây kèn nặng ký Mạnh Tuấn của Phương Đông ban nhạc chơi theo phong cách Jazz rất được chú ý với các chương trình biểu diễn tầm cỡ như Thiện Thanh – do Quốc Trung soạn, Jazz – Mạnh Tuấn…
Tại sao Jazz lại kén thính giả?
Mạnh Tuấn: quả thực nghe Jazz lần đầu rất khó lọt tai. Quãng nhạc của nó cheo leo, vặn vẹo chứ không bình thường như Pop, Rock. Đối với thanh niên, hệ thống các phương thức biểu hiện của Jazz quá phức tạp. Chính bản thân chúng tôi không phải ngay từ đầu đã thích Jazz. Nhưng khi đã hiểu nó, chúng tôi như những con nghiện vì nghe nó cũng phê. Jazz chứa đựng nhiều yếu tố khiến người ta mê đắm, ngoài tính tự do, tính học thuật, tính bản sắc, nó buộc người chơi phải luôn luôn động não, sử dụng trí tưởng tượng của mình. Cùng một bản nhạc nhưng mỗi lần chơi là một lần sáng tạo.
Lối biểu diễn của nhạc Jazz có khác biệt lắm so với Pop, Rock không?
Quốc Trung: ít ồn ào hơn và cũng không bài vở. Mỗi người đều tự do ứng tấu theo cảm hứng của mình nhưng vẫn hòa hợp nhờ sự đồng cảm. Chơi Jazz có nhiều bất ngờ, một ngẫu hứng tưởng là lạc lõng đôi khi trở thành ý tưởng đắt giá. Tuy thoải mái trong cảm xúc nhưng chơi Jazz không dễ bị kích động như Rock. Gần đây Jazz mới có xu hướng pha trộn với Pop, Rock để gần gũi với thính giả hơn. Tháng 7 vừa rồi, cùng Thanh Lam tham dự liên hoan nhạc Jazz Montreux ở Thụy Sĩ, tôi cũng thấy các ban Jazz nổi tiếng ngày càng chơi đơn giản và dẽ nghe.
Có phải bất kể loại nhạc nào cũng đều có thể chuyển thành nhạc Jazz?
Quốc Trung: Đúng. Điều quan trọng là phải tìm ra nét hài hòa giữa bài nhạc đó và hòa thanh, tiết tấu của Jazz. Chúng tôi có phối một số bài hát dân tộc Việt Nam trên nền nhạc Jazz mang màu sắc Việt Nam như ông và cháu, Lời ru rừng, Tiếng gọi cô đơn, Thiện Thanh, Kỷ niệm ấu thơ… còn anh Mạnh Tuấn dựa trên dân ca Mèo đã sáng tác bài giận hờn và Trên rẻo cao.
Mạnh Tuấn: Tôi nghĩ rằng cũng từa tựa như một người nước ngoài say mê đàn bầu Việt Nam, người Châu Á chơi nhạc Jazz Phi Mỹ tài nghệ đến mấy vẫn khó có thể so sánh với nhạc công Jazz phương Tây nói chung. Để khẳng định âm thanh riêng của mình ở các Festival quốc tế thì chúng tôi cần phải khai thác các màu sắc âm nhạc Việt Nam. Đó là con đường để hội nhập.
Thế anh nghĩ gì về vị trí của Jazz Việt Nam hiện nay?
Mạnh Tuấn: Thực ra, theo tôi nghĩ, chưa tồn tại một từ Jazz Việt Nam vì số lượng người chơi Jazz và các bản nhạc do ta soạn còn quá ít. Nhưng tôi tin chắc vào sự thành công của nhạc Jazz trong tương lai ở Việt Nam, không phải một thế hệ nữa mà chỉ vài ba năm sắp tới. Để tạo môi trường gần gũi giữa Jazz với các bạn trẻ, chúng tôi hy vọng được diễn nhiều hơn cho các bạn nghe, tổ chức các buổi trò chuyện trao đổi để họ hiểu thêm về thể loại nhạc tuyệt vời này.
Cảm ơn các anh.
Nguyễn Quỳnh Chi – Trí Thức Trẻ – số 16 – tháng 10 – 1996.