Monthly Archives: June 2016

Máy tính… bí quyết đẻ con trai? – Phần 1

Giới tính của lứa trẻ tương lai không chỉ có thể dự đoán, mà còn có thể định đoạt một cách chính xác. Tiến sĩ y học Pháp Patrick Schoun đang phổ biến ở châu u phương pháp sinh con theo ý muốn với khả năng bảo đảm gần như 100%.
Từ lâu người ta đã nghi ngờ rằng, sinh con trai hay gái hoàn toàn không phải vấn đề ngẫu nhiên. Vậy nên luôn xuất hiện những ý tưởng xoay sở thế nào để con người có thể can thiệp vào quá trình đó. Nhưng cho đến nay, mọi nỗ lực vẫn chưa mang lại kết quả mong muốn. Không còn ai tự nguyện thiến “một hòn” bên trái để hy vọng có con trai như hồi thế kỷ 18, ở Pháp hay đeo đôi ủng có lẫn cà rốt, lúc ân ái với vợ như một thời ở Ba Lan. Tuy vậy, nhiều người tin rằng, giới tính trẻ con có thể phụ thuộc vào thí dụ – những món ăn, mà thiếu nữ thường dùng trong thời kỳ tiền ân ái.
Nhà nghiên cứu Pháp đã tận dụng hiện tượng đã được khoa học khẳng định: vỏ bọc tế bào trứng phụ nữ bao giờ cũng có nguồn năng lượng điện nhất định. Tùy thuộc điện thế vào thời kỳ ân ái, nó sẽ “hút” con giống mang nhiễn sắc thể X hoặc Y – yếu tố quyết định giới tính của đứa trẻ tương lai. Vấn đề là xác định điện thế dòng điện trong chu kỳ nhất định.
Cách làm của Tiến sĩ Schoun được gọi là phương pháp Selnas, sử dụng chương trình máy tính được lập trình trên cơ sở những dữ liệu như: tuổi đối tượng, nhóm máu và ngày kết thúc chu kỳ “bẩn người” cuối cùng. Nó cho phép soạn ra lịch trình cụ thể xác định thời điểm tốt nhất để “chung đụng”, để hy vọng sinh con theo ý muốn. Theo thông báo của Tiến sĩ Schoun, thực hiện phương pháp trên, 153 trong tổng số 155 cặp vợ chồng đã đạt kết quả mong đợi.
Nhân sự kiện trên, nhà động vật học Anh Matt Ridley đã xuất bản cuốn sách: “The Red Queen sex and the evolution of human nature” (Giới tính và sự tiến hóa tự nhiên của nhân loại). Nữ bác học lưu ý rằng, những cặp vợ chồng, thí dụ muốn sinh con trai, cần phải ân ái trong thời điểm gần thời kỳ rụng trứng tức là khoảng ngày thứ 14 của chu kỳ “người bẩn”.
Những năm đầu sau khi cưới
n ái thường xuyên, tuần suất cao cũng là biện pháp tốt. Đây là cách đảm bảo có đội quân “tươi trẻ” có sức sống nhất các “con giống” mang nhiễm sắc thể Y. Tại sao? Lý do thật giản đơn – “con giống” mang nhiễm sắc thể Y (yếu tố quyết định sinh con trai) bẩm sinh hăng hái hơn và di chuyển nhanh hơn trong bộ phận sinh sản đàn bà. Song sau vài ba ngày, chúng mất dần nhuệ khí và nhanh chóng trở nên yếu đuối. Và khi ấy trong cuộc đua lớn đến tế bào trứng, thế mạnh dần dần thuộc về những “con giống” mang nhiễm sắc thể X.
Theo một số nhà nghiên cứu, những cặp vợ chồng trẻ thường hay đẻ con trai bởi thường tình họ ân ái nhiều hơn, tương tự như vợ chồng xum họp sau thời gian dài xa cách. Điều này giải thích sự tăng vọt các ca sinh con trai sau chiến tranh thế giới thứ hai, xảy ra chủ yếu ở Pháp và Anh: Khi đám lính từ các mặt trận ồ ạt trở về vòng tay gia đình. Các nhà nghiên cứu ở Mỹ, Úc, Vê – nê – zu – ê – la và Philippine nhận thấy rằng, đa số các cặp vợ chồng trẻ trong những năm đầu sau khi cưới, thường sinh con trai. Mãi về sau, đám con gái mới chào đời, thường là đứa con thứ ba, thứ tư, thậm chí thứ năm. Theo Tiến sĩ John Martin (Đại học tổng hợp Arizon) tình hình tương tự cũng diễn ra với người da đỏ ở Bắc Mỹ và Vê – nê – zu – ê – la.
Bích Thủy –Trí Thức Trẻ – số 31 – 1998

Vệ tinh định vị toàn cầu

Bạn muốn tìm đoạn đường ngắn nhất ư? Một bệnh viện? Một khách sạn? các vệ tinh sẽ chỉ đường cho bạn…
Tháng 8 năm 1995, 20 giờ 47 phút. Một thông tin màu đỏ xuất hiện trên màn hình máy điện toán của một ông John Fink nào đó, phục trách quản lý một trạm xe cấp cứu ở Oakland, California. Một phụ nữ vừa gọi cấp cứu để báo tin cha chị, đã nhiều gọi cấp cứu để báo tin cha chị, đã nhiều tuổi, bị rối loạn hô hấp. Fink nhấn vào một phím. Trên màn hình xuất hiện một bản đồ trên đó có 5 số liệu, 5 xe cấp cứu đang đậu ở gần nhà bệnh nhân nhất, chưa có nhiệm vụ được cụ thể hóa bằng một chấm vàng. Tất nhiên, xe số 534 là xe gần nhất, Fink nhấn một phím khác để báo cho nhân viên cấp cứu. Trong vài phút, y tá đã có mặt ở nhà bệnh nhân. Đột nhiên ông già ngừng thở. Các y tá lập tức cho ông thở Oxy và chuyển ngay về bệnh viện, bệnh nhân bị dị ứng với một loại kháng sinh, hồi tỉnh và thở lại bình thường khá nhanh. Các ông đã cứu sống tôi. Ông già nói. Bệnh nhân đáng lẽ cũng nên cảm ơn cả 24 vệ tinh chuyển động trên 6 quỹ đạo, ở độ cao là 18 nghìn km, được trang bị đồng hồ nguyên tử, máy điện toán và thu phát. Hệ thống định vị toàn cầu là GPS này có khả năng hướng dẫn người mù, giúp nông dân gieo lúa, hạn chế thủy triều đen. Kể cả việc giúp các cầu thủ chơi golf đạt thành tích cao. Nó cũng còn được sử dụng để bảo vệ những động vật trên đường bị diệt vong cũng như một khách du lịch tìm được một tiệm ăn nổi tiếng ở một thành phố xa lạ. Những ứng dụng của nó nhiều đến mức khó mà kể ra hết được. Ken Dulaney chuyên gia nghiên cứu về tin học nói. Từ khi có hệ thống GPS, năm 1970 với mục đích phối hợp các hoạt động quân sự như tên lửa, phi cơ, cơ giới… năm 1991 nó đã phục vụ cho cuộc chiến vùng vịnh với độ chính xác cao. Các vệ tinh của GPS cũng đã giúp cứu thoát một phi công Mỹ, khi phi cơ của anh ta bị bắn hạ ở Bosnia vì anh ta có một hệ thống thu GPS cầm tay.
Độ chính xác tới 1 mét
Các tính hiệu của GPS lại được điều chỉnh bằng một hệ thống trạm trên mặt đất nên có độ chính xác tới 1 mét. Ai cũng có thể sử dụng hệ thống này, miễn phí. Tới mới đến California để thăm một số nhà nghiên cứu mở đường cho GPS. Tôi thuê một xe hơi có trang bị Never lost không bao giờ mất, một máy lập bản đồ tin học gắn với một máy thu GPS dấu trong mui. Tôi chỉ cần đưa vào bộ nhớ địa chỉ của khách sạn, lập tức trên một bản đồ có màu sắc, xuất hiện tuyến đường ngắn nhất để đi tới. Một mũi tên vàng lớn nổi lên ngay và một giọng nói tổng hợp vang lên: Ngã tư tới, rẽ tay trái xe của tôi được thể hiện bằng một hình tam giác nhỏ di động trên bản đồ. Theo chuyên gia Mỹ, Peter Huber, nếu nhu cầu về thiết bị gia tăng thì giá thành sẽ hạ xuống ngay. Một số xe còn được trang bị một núm S.O.S cấp cứu số liệu và vị trí của xe được chuyển tới cơ quan an ninh, qua vệ tinh. Nếu có sự cố gì thì lập tức, đơn vị cảnh sát gần nhất sẽ có mặt ngay. Nhưng một trong những ứng dụng thương nghiệp đầu tiên của GPS là khu vực vận tải, hoặc chính xác hơn là việc theo dõi các xe vận tải, sau đó là việc quản lý các kho bãi để đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường, đón trước các chuyến tàu chở hàng để tránh hàng bị ứ đọng cũng như việc ăn cắp hàng ở kho.
Những cặp mắt cho người mù
Theo Trimble, tương lai của GPS còn giúp cho độ chính xác trong nông nghiệp khi gieo giống, phân bón và thuốc trừ sâu, người nông dân không quan tâm đến chất lượng khác nhau của đất. Một máy giặt có trang bị hệ thống GPS có thể ghi lại năng suất khác nhau của từng mảnh đất. Với những dự kiện đó, nông dân có thể đa dạng hóa việc trồng trọt và cách xử lý để tăng thu nhập. Ở Los Angeles những thiết bị GPS xách tay giúp cho việc quản lý đèn đường chỉ một ngọn bị hư, lập tức bộ phận sữa chữa đã có mặt, khi có thủy triều đen người ta thả những pha tiêu thôi nổi trên một lớp dàn hỏa và chuyển về cơ quan cứu hộ vị trí. Họ có thể biết được quy mô phạm vi cứu thủy triều đen để xử lý nhanh hơn. Ở Santa Barbara các nhà nghiên cứu thuộc đại học California đang cố gắng tạo những con mắt cho người mù. Họ phối hợp một máy thu GPS với một máy điện toán xách tay có trang bị bộ tổng hợp tiếng nói. Máy điện toán có một bản độ tin học gồm đường phố, cửa hàng cũng như những trở ngại, có thể có, như ghế đá… Trang bị đó nằm trong một túi đeo sau lưng. Người mù với trang bị đó và hai tai nghe có thể nghe thấy tiếng nói dẫn đường cho mình: Sắp tới ngã tư hãy đi chậm. Sắp tới cửa hàng bách hóa, có trạm điện thoại công cộng… Một trong những người tham gia vào công trình nghiên cứu này là Reginald Holledge, giáo sư địa lý, bản thân ông cũng bị mù, nói: “Hệ thống GPS đã giải phóng cho tôi cảm giác bị lệ thuộc mà trước đây tôi thường có. Charles Trimble tâm sự với tôi là khi bắt tay thử nghiệm kỹ thuật, ông và cộng sự đều tin là nó sẽ làm thay đổi cuộc sống của nhiều người sự thay đổi đó đang diễn ra trước mắt chúng ta.
Bùi Tân- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Con sư tử điên – phần 2

Cái màu xanh hiền lành của tờ giấy bạc ai ngờ lại nguy hiểm và bất trắc hơn màu xanh thăm thẳm của rừng già. Hình như Mắc Toen, nhà văn hài hước nổi tiếng người Mỹ đã nói đùa giấy bạc là từ gọi tắt của giấy bội bạc. Không ai biết những đồng đô la ấy đã trở thành những bản hợp đồng ma quỷ từ bao giờ nó mua được tất cả mọi thứ kể cả linh hồn của người. Xalim đã tiếp tay cho lũ giết mướn bắn vỡ sọ người thầy, người bố nuôi của anh khi Jon Wasson đương vuốt ve một con sư tử nhỏ mồ côi, ông nuôi dưỡng từ khi mới lọt lòng mẹ và đặt cho nó một cái tên thật ấm áp là Frendi người bạn nhỏ. Cũng may là Frendi lúc đó còn quá nhỏ để có thể lột da được nên thoát nạn. Xalim đã tổ chức vụ ám sát tỷ mỉ và chu đáo gần như một tội ác hoàn chỉnh trong tiểu thuyết trinh thám. Ngoài ra thật oái oăm chính cách cư xử đầy lòng nhân ái của Jon Wasson lúc còn sống đối với Xalim đã như một lý do ngoại phạm loại kẻ ác ra khỏi sự hồ nghi của thiên hạ. Ai lại nỡ phản bội một người tận tâm đối với mình như thế. Có họa là muôn thú. Và cái xúc động giả vờ của Xalim đã làm mủi lòng không biết bao nhiêu khán giả của một màn diễn thượng thặng. Xalim được đề bạt làm quyền giám đốc khu bảo vệ loài thú hoang dã. Con Frendi mấy hôm liền từ sớm đến chiều luôn nằm bẹp bên mộ Jon Wasson như một hiếu tử. Nhưng giống vật chóng quên. Nhất định là chóng quên hơn người?
Nó hay ăn và lớn nhanh như thổi. Bộ óc con người vốn nhiều ngóc ngách, nhiều đường ngang ngõ tắt như một mê cung. Không hiểu trong thâm tâm Xalim nghĩ gì, có lóe lên chút hối hận hiếm hoi nào chăng, sự hối hận nó là một đặc tính cao quý nhất của con người. Chỉ thấy anh chăm sóc con Frendi chu đáo một cách đặc biệt. Jon thật hạnh phúc vì đã để lại cho đời một môn đồ thương yêu thú vật như vậy.
Ôi dư luận!
Đã đến ngày giỗ đầu của Jon Wasson. Cỏ nhiệt đới thả sức mọc hỗn trên mộ người chết như xui đất trở lại rừng. Người ta mang hoa đến phủ ấm nơi yên nghỉ cuối cùng của nhà tự nhiên học đam mê đã bỏ quê sinnh tại một vùng đảo trù phú quanh năm sương mù đến lựa chọn một vùng rừng hoang sơ bốn mùa nắng gắt làm quê chết. Xalim dẫn con Frendi đến viếng mộ. Anh đọc một bài diễn văn được chuẩn bị từ trước nói về công lao, tính trung thực của Jon Wasson và lòng biết ơn của tất cả những người bảo vệ thú hoang dã trên lục địa đen cũng như trên toàn hành tinh đối với ông. Bài diễn văn lời lẽ hoa mỹ và hùng hồn làm cử tọa xúc động. Thì sự cố xảy đến. Vào lúc lâm ly nhất con Frendi bỗng chồm lên cắn vào cổ Xalim theo lối xử án quyết liệt của luật rừng. Trong khoảng khắc nhìn vào mắt con thú dữ, Xalim bỗng thét lên khủng khiếp. Anh thấy mắt nó giống hệt mắt Jon Wasson nhìn mình khi người bị nạn phát hiện đã bị tên học trò phản bội. Con Frendi điên rồi. Tất cả bỏ chạy toán loạn. Mấy người bảo vệ lập tức nổ súng vào con mãnh thú. Những giọt máu rỏ trên đường cho người ta biết rằng Frendi đã bị thương. Nhưng nó vẫn còn đủ sức chạy thoát. Cả khu bảo vệ thú hoang dã bàn tán xôn xao về việc con sư tử bồng phát điên một hiện tượng hầu như lần đầu tiên xảy ra ở khu rừng cổ sơ này. Người ta tổ chức một đám tang trọng thể để tỏ lòng vô cùng thương tiếc Xalim, người cán bộ gương mẫu, nạn nhân của lòng yêu thương loài thú hoang dã, và nhóm bảo vệ được nghiêm lệnh săn lùng và tiêu diệt con sư tử điên cho bằng được. Một không khí nặng nề có phần hốt hoảng bao trùm lên khu rừng cấm. Trong một vài tờ báo do nhóm buôn da thú tài trợ, một vài bỉnh bút đã công khai nói đến chủ trương nguy hiểm, liều lĩnh và thiếu cân nhắc của việc thành lập khu bảo vệ thú dữ. Một đêm người ta thấy tiếng con Frendi gầm thét vang động cả khu rừng. Dưới ánh trăng rằm bóng nó lừng lững nằm trên mộ Jon Wasson như tượng một con Xphanhx Ai Cập. Mộ Xalim đã bị Frendi bới tùng, và xác Xalim bị xé nát trên mộ của Jon Wasson như trong một lễ xử tội thời tiền sử. Người ta thi nhau nổ súng vào con sư tử điên. Con sư tử vẫn gầm thét. Trong đêm hoang dã tiếng gầm thét của nó như pha lẫn tiếng khóc. Hành động quái dị của con sư tử đánh thức sự tò mò của một nhà báo trẻ tuổi ở địa phương tên là Xabat. Qua việc điều tra tỉ mỉ và công phu, anh đã phanh phui tất cả sự thật đau lòng tưởng như đã mồ yên mả đẹp. Xabat bỏ tất cả tiền nhuận bút cũng như tiền thưởng của Hội bảo vệ thú vật hoang dã để xây dựng cho con sư tử điên một ngôi mộ khang trang nằm kề mộ của Jon Wasson. Trên tấm bia đá lớn không biết nghĩ thế nào anh cho khắc một dòng chữ đậm.
LĐ- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Con sư tử điên – phần 1

Hay kiếp trước ta làm thân sư tử
Không biết ngôi sao dữ nào bất ngờ chiếu tướng cung mệnh cuộc đời vốn phẳng lặng của Jon Wason xui khiến anh đi đến một quyết định rồ dại như vậy. Tất cả bắt đầu từ một dòng tít in chữ nhỏ không phải ở trang đầu mà ở trang bốn trong ngôn ngữ báo chí người ta thường gọi là mục tin vặt của tờ Thời báo. Giống sư tử Châu Phi có nguy cơ bị tuyệt diệt. Jon Wasson là một nhà tự nhiên học. Số lương hàng tháng đủ cho anh sống một cuộc đời không sang trọng nhưng cũng không đến nỗ túng thiếu tại thủ đô London. Anh được cấp trên nâng đỡ, bạn bè yêu mến. Và nếu như anh vẫn còn sống độc thân thì cũng chẳng phải vì một mối tình đầu ngang trái nào mà đơn giản vì anh chưa hứng thú lấy vợ, hay nói theo ngôn từ của Jon Wasson vì không có thời giờ. Cuộc đời gần như đã được hoạch định sẵn ấy bỗng bị đảo lộn hoàn toàn vì một dòng chữ in. Jon Wasson đâm đơn tình nguyện làm việc tại vùng rừng nguyên thủy ở Châu Phi xa xôi trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt về khí hậu và cực kỳ gian khổ về sinh hoạt để… Bạn bè đã tìm đủ những lý do xác đáng cố thuyết phục anh. Họ hàng cũng đã viện đủ lữ chắc như cua gạch đủ cả ý lẫn tình cố giữ chân anh lại. Nhưng họ chưa hiểu thế nào là sự đam mê. Cái đam mê nó như một thứ bùa ngải khiến người ta lao đầu vào những trò rồ dại hay những kỳ tích lớn lao ngoại cỡ của loài người. Ù lặn lội sang châu Phi để đào mỏ kim cương, khai thác dầu lửa, buôn vũ khí hay cùng lắm để băng bó một trái tim rỉ máu còn có thể lý giải được… Đằng này tình nguyện sang châu Phi để… Đúng là quá đáng… Một vài người đã bắt đầu nghi ngờ về não trạng của Jon Wasson. Có ai lại vứt bỏ một công việc an nhàn ở một xứ sở văn minh, lọ mọ đến nơi khỉ ho cò gáy, khí hậu khắc nghiệt với những điều kiện sinh hoạt nhiều khi còn dưới mức tồi tệ sống một cuộc đời đầy bất trắc để bảo vệ sự sinh tồn của loài sư tử.
Còn Jon Wasson thì chỉ cười ruồi, cái cười đặc biệt Anh cát lợi và nói một câu không có địa chỉ. Cho đến giờ mình vẫn chưa hiểu hết nghĩa của từ văn minh mặc dầu đã đọc hết phần lý giải trong bộ Bách Khoa Britanica hai mươi tập. Rồi Jon Wasson lẩm bẩm như đọc thoại:
Chẳng biết tập hai mươi mốt xuất bản vào thế kỷ XXI có bổ cứu gì chăng? Biết đâu lúc ấy lại chẳng nẩy nòi một ông Anxtanh mới nào đó chứng minh được rằng nhân loại đang đi giật lùi theo kiểu con tôm…. Với những thằng điên như vậy phải để thực tế đập cho vỡ mặt may ra mới tỉnh ngộ. Liệu có được ba bảy hai mốt ngày không? Jon Wasson đã trụ được ở khu bảo vệ thú rừng Xomali không phải hai mươi mốt ngày mà gần hai mươi mốt năm. Nhà tự nhiên học năm nào đã già đi với đại ngàn và gần như đã trở thành một người rừng. Mớ tóc xõa bạc gần kín gáy như một chiếc bờm. Bộ râu rậm hơn rau Trương Phi. Cái mũi lớn đường bệ trên khuôn mặt nắng gió, thân hình lẫm chẫm đã tạo cho ông một hình dáng đặc biệt của chúa rừng xanh. Nhìn ông ngồi giữa đàn sư tử nhỏ mồi côi dỗ cho chúng ăn chẳng khác gì một con sư tử bố làm nhiệm vụ gà trống nuôi con một cách tận tụy. Nhất là khi ông cất giọng ồm ồm như thác lũ ngâm những câu thơ chẳng biết của Sele hay của Jox như từ ruột đất vọng về.
Hay kiếp trước ta làm thân sư tử
Rừng xanh bạt ngàn xanh tiền sử châu Phi.
Và thảng hoặc vào những buổi trăng sáng soi mặt mình trong giếng nước đã hơn một lần Jon Wasson bâng khuâng tự hỏi hay lòng yêu sư tử của mình là một giấc mộng đồng loại còn sót lại từ kiếp trước thật. Hai mươi mốt năm Jon Wasson đã cứu được không đếm xuể những con sư tử khỏi nòng súng của lũ săn trộm bất lương. Ông đã trở thành người bạn lớn của đám thú dữ cũng như kẻ thù bất cộng đái thiên của một đám người hám lợi tâm địa còn có thể hung tợn hơn thú dữ. Và nhân vật trụ vững được trước những trận mưa hồng thủy, những cơn nắng lửa, những trận sốt từng quật ngã voi rừng, trước vô vàn những rắn độc, thú ác, những khó khăn tật bệnh, nhân vật đó đã gục ngã trước âm mưu hiểm độc của đồng loại. Cuộc sống nơi hoang dã đã tạo cho ông một khứu giác đặc biệt gần như một giác quan thứ sáu, nó khiến ông bao giờ cũng là người nổ súng trước. Nhưng người ta chỉ tinh mắt với kẻ thù. Jon Wasson không thể ngờ, không bao giờ có thể ngờ rằng người phụ tá da màu Xalim rất mực trung thành của ông lại bỗng trở thành kẻ thù nguy hiểm nhất vì mấy tệp giấy màu xanh hiền lành có in hình một vị bác học khả kính tên là Franklin.
LĐ- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Người đánh máy số 1 thế giới

Mikhail Shestov người Nga có thể đánh máy 40 thứ tiếng trên thế giới và luôn với tốc độ trên 600 lần đánh trong một phút và không bao giờ sai. Tài năng nghe có vẻ đơn giản này của anh đã mấy lần đưa anh vào cuốn sách các kỷ lục Guinness. Mikhail Shestov là học sinh giỏi cho đến lớp bốn. Nhưng khi gia đình anh chuyển từ Karachaevsk đến Kislovodsk (Bắc Cáp-cado), thì sức học của anh đột nhiên giảm mạnh. Các giáo viên ở trường học mới thậm chí còn coi anh là trẻ em chậm phát triển. Nhưng điều lý thú là ổ chỗ vào tuổi 11. Mikhail Shestov đã nghĩ ra phương pháp học bài của riêng mình dựa trên các nhịp độ tiếp thu thông tin khác nhau. Năm 16 tuổi Mikhail Shestov đi học Karate. Sau 4 tháng học các huấn luyện viên suýt loại anh ra khỏi trường vì coi anh là không có triển vọng. Mikhail Shestov lại áp dụng lý thuyết nhịp độ của mình và kết quả thật không ngờ chỉ 8 tháng sau ai ai trong thành phố cũng biết đến cậu bé Mikhail Shestov mảnh khảnh nhưng rất giỏi karate. Trước khi bị gọi đi nhập ngũ, Mikhail Shestov đã qua lớp điện báo viên. Ở đây cảm giác về nhịp đã giúp anh hoàn thiện nghệ thuật đánh móc. Điều đã giúp anh nhiều khi anh phục vụ trong quân đội. giải ngũ và trở thành sinh viên khoa báo chí trường đại học tổng hợp Lomonoxop Matxcava, Mikhail Shestov tìm cách ứng dụng tài năng của mình. Đầu tiên tại ủy ban nhà nước về du lịch nước ngoài anh đề nghị được huấn luyện tất cả các nhân viên trong ban biên tập bà hứa chỉ sau một thời gian ngắn các nhân viên sẽ làm việc với tài liệu nhanh gấp hai lần và có hiệu quả hơn. Nhưng ở Ủy ban đã không chấp nhận kế hoạch của anh. Mikhail Shestov quay về đề nghị dạy các nhà văn, nhà thơ, nghệ thuật đánh máy nhanh, nhưng họ trả lời rằng chỉ cần bằng một ngón tay họ đã kịp ghi lại những gì họ nghĩ ra. Tài năng của Mikhail Shestov chỉ được đông đảo công chúng biết đến khi anh được giới thiệu đến hãng thông tấn TASS. Các phóng viên đề nghị Mikhail Shestov biểu diễn tài nghệ của mình. Khi tốc độ đánh máy văn bản tiếng nước ngoài không quen biết vượt trên 6 trăm cú đánh trong một phút thì tất cả đều phải trầm trồ khen ngợi. Kết quả Tass cho đăng thông tin đầu tiên về phương pháp của Mikhail Shestov. Sau đó tại giải vô địch thế giới mở rộng về đánh máy, Mikhail Shestov đã đạt được kỷ lục hơn 6 trăm cú đánh trong một phút, đánh lại một văn kiện cực kỳ phức tạp. Cô đánh máy người Đan Mạch đứng thứ hai với hơn 4 trăm cú đánh trong một phút. Chính Tổng biên tập cuốn sách kỷ lục của Mikhail Shestov đã đến dự buổi lễ ghi nhận chính thức kỷ lục của Mikhail Shestov tại trụ sở của hãng BBC ở Luân Đôn. Kể từ đó chương trình Guinness Show với sự tham gia của Mikhail Shestov luôn được chiếu trên các chương trình vô tuyến truyền hình của thế giới. giải thích thực chất phương pháp của mình, Mikhail Shestov cho biết: “Tôi không dạy các ngón tay của con người làm việc. Tôi chỉ dạy cách tiếp thu mọi văn bản hay các nhóm chữ số và cách truyền mệnh lệnh từ não xuống hai bàn tay. Nếu ngón tay của mọi người gần như đều như nhau, thì đầu óc của mỗi người lạ khác nhau. Vì thế Mikhail Shestov chia học trò của mình ra làm nhiều nhóm. Có người chỉ cần dạy vài giờ, những người khác tiếp thụ hệ thống của anh trong 10 đến 12 buổi học, còn nhóm thứ ba cần nhiều tháng tập luyện. Mikhail Shestov đã thành lập các học viện mang tên mình ở Đan Mạch, và ở Mỹ. giờ đây anh làm việc tại một viện nghiên cứu nhỏ hở Phlorida của Mỹ nơi rất quan tâm đến phương pháp của anh. Điều đáng buồn là ở Nga không ai quan tâm đến tài năng của anh.
Hùng Nam- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Kính phát điện

Tại thành phố Lozan, ở Viện hóa lý thuộc trường đại học bách khoa trung tâm đào tạo nổi tiếng thế giới của Thụy Sĩ, công việc chế tạo loại kính có khả năng phát điện đang được tiến hành khẩn trương. Các công trình thí nghiệm được thực hiện từ đầu thập kỷ 90, nhưng mãi đến bây giờ mới cho kết quả khả quan. Đứng đầu nhóm nghiên cứu là giáo sư tiến sĩ Michael Grazel. Nguyên lý của phát minh được tiết lộ loại kính này cần phải nắm bắt một phần năng lượng do những phần tử foton tự nhiên vốn có trong ánh sáng mặt trời. Những dòng ánh sáng chiếu liên tục tác động đến các điện tử, với sự trợ giúp của thiết bị kỹ thuật, sẽ tạo ra dòng điện. Vấn đề là phải duy trì thường xuyên chuyển động của các điện tử tức kích động dòng điện dưới tác dụng va chạm của các foton lên một số phần tử. Các nhà hóa học ở Loza đã lắp đặt trên đường những dòng ánh sáng đi qua hàng loạt phần tử hóa chất mẫn cảm ánh sáng, có khả năng nhào lộn điện tử nhờ hiệu ứng tập trung cao độ các foton. Công nghệ hiện đại có thể chế tạo những bằng hóa chất mỏng đến mức trong suốt, tức đủ đáp ứng nhu cầu lắp dán vào mặt kính mà không làm ảnh hưởng đến độ trong suốt vốn có của kính… Kính phát điện Thụy Sĩ có cấu trúc gần như hai lát bánh mì kẹp thịt, trong đó lát bánh mì giữ vai trò mặt kính, nhân thịt 4 lớp kim loại mỏng trong suốt. Dưới kính là lớp oxit chì đóng vai trò dây dẫn điện. Nó đưa dòng điện phát sinh trong lòng chiếc bánh mì nhân thịt. Tiếp theo dưới lớp chì là mảng thiết bị gom nhặt một phần ánh sáng mặt trời. Nó được chế tạo từ ba thành phần lớp nhận bắt foton, lớp liên hệ với chúng và đẩy điện tử về phía băng chì lớp thu nhận điện tử đi ốt để gom giữ những phân tử mẫn cảm đối với foton. Kể cũng khá phức tạp, song nhờ cấu tạo như thế con người đã có dòng điện. Hệ thống kính phát điện như thế hiện mới cho hiệu suất là từ 8% đến 10%. Với những cải tiến đang hoàn thiện, tác giả công trình cho rằng, họ sẽ nâng lên 15% đến 20% kết quả đủ để đưa vào sản xuất công nghiệp và ứng dụng trên phạm vi rộng rãi. Trước mắt loại kính này có thể lắp vào đồng hồ đeo tay nó sẽ tạo ra năng lượng thay pin để duy trì hoạt động của cả bộ máy. Hiện tại, các nhà khoa học Thụy Sĩ đang hoàn thiện hai hướng nghiên cứu là cải tiến nguyên liệu nắm bắt năng lượng mặt trời và điện tử. Các nhà hóa học tìm kiếm hợp chất có khả năng tạo dòng điện dưới tác động ánh sáng không nhìn thấy bằng mắt thường. Dấu hiệu quả tạo điện năng của kính phát điện Thụy Sĩ thấp hơn pin mặt trời, song giá thành của nó chỉ bằng một phần mười pin mặt trời. Thế nên, kính phát điện chắc chắn sẽ được thị trường mau chóng chấp nhận.
Trên 2 nghìn tuổi máy bán hàng tự động
Dẫu bạn không tin đó vẫn là sự thật máy hàng tự động là phát minh từ trên 2 nghìn năm trước các chuyên gia thuộc Hiệp hội bán hàng bằng máy tự động Anh đã khẳng định như vậy trong lễ khai trương triển lãm quốc tế thiết bị bán hàng tự động Manchester của Anh nhân kỷ niệm 100 năm ngày phổ cập rộng rãi phương thức bán hàng tiên tiến này. Những hiện vật khảo cổ mới tìm thấy trưng bày tại triển lãm chứng tỏ thiết bị mà sau khi đúc đồng tiền kim loại vào, sẽ cho ta nước uống đã được nhà toán hoặc Hy Lạp Hero thiết kế và chế tạo từ năm 215 trước Công nguyên. Chúng đã được lắp đặt tại một số đền đài Ai Cập. Những sản phẩm thuốc lá và xì gà được bán ở Anh, đầu thế kỷ 18, thông qua các thùng danh dự. Sau khi ném đồng bạc vào ô cửa nhỏ, nắng thùng sẽ mở ra, nhưng các nhà chế tạo vẫn chưa nghĩ ra cách để nó tự động đóng lại. Thế nên, khách hàng sau khi đã lấy hàng để không mất danh dự sẽ phải đóng nắp thùng. Đầu thế kỷ 19, chủ xuất bản nọ đã lợi dụng máy bán hàng tự động để tiêu thụ những cuốn sách cấm. Khi bị phát hiện nhà doanh nghiệp láu cá đổ tội cho máy. Mãi đến cuối thế kỷ 19 các loại máy bán hàng tự động mới tìm được đất triển khai đại trà. Người Mỹ đã dùng nó để bán kẹo cao su tại các sân ga xe lửa ở New York. Thoạt tiên khả năng kỹ thuật chỉ cho phép bán lượng bánh kẹo đủ cho 1 đồng tiền. Sau đó, nhờ sự phát triển của kỹ thuật có thể mua từ máy các mặt hàng khác như thuốc lá, tem thư, bưu ảnh… Tại Anh dịch vụ bán hàng bằng máy tự động các sản phẩm bán kẹo và nước giải khát khởi đầu từ năm 1895. Trước chiến tranh thế giới 2, tại các nhà máy người ta lắp đặt máy bạn hàng tự động các loại thực phẩm và nước giải khát để đáp ứng nhu cầu của các kíp thợ có thời gian làm việc liên tục hàng ngày từ 12 giờ trở lên. Trong những năm 40 đến 50 thiết bị trên bắt đầu xuất hiện tại các trường phổ thông, đại học và các công sở. Cuộc triển lãm ở Manchester đã thu hút trên 130 nhà sản xuất nổi tiếng như Britvic, Krapt, Jacobs, Suchard, Lyons Tetley, Nestle UK, Van den Bergh Foodsevice, Zanussi Vending. Có khả năng nhiều tác phẩm mới thú vị, thí dụ máy bán bia chỉ hoạt động trong những thời điểm nhất định, theo đúng quy định về luật hành chính ở mỗi quốc gia. Trước lúc mở cửa hàng, máy tự động điều chỉnh thân nhiệt của bia để thượng đế được uống sản phẩm như ý. Có thể thanh toán bằng tiền giấy, tiền kim loại hoặc thẻ tín dụng. Thế hệ máy này sẽ hoạt động khi khách hàng động tay vào thiết bị gọi hàng thay bằng phương thức bấm nút hiện hành. Thế hệ máy mới đang trong quá trình hoàn thiện là máy tự động bán máy ảnh, gà quay đang nóng và tã lót dùng một lần.
KS Trần Đào- Trí Thức Trẻ – số 20 – tháng 2 – 1997.

Giáo sư viện sĩ Nguyễn Huy Phan nói về công việc, về gia đình và bản thân – Phần 2

Và cũng có một nữ bệnh nhân ở bệnh viện đó từ chối không cho giáo sư mổ?
Vâng, cũng có. Đó là bà vợ của một đại biểu Xô Viết tối cao vùng giê óc gi, quê hương của Xtalin. Bà ta bị tai nạn giao thông, sau khi được cứu sống có di chứng là mũi vẹo và sẹo xấu ở mũi. Cần nói thêm giáo sư Viện trưởng viện tôi là Pri vô rốp từng là bác sĩ chữa bệnh cho Lê nin, lúc đó là 77 tuổi, đã giao bệnh nhân cho người thầy của tôi là giáo sư Mikhelson phụ trách. Giáo sư Mikhelson một trong hai người sáng lập ra ngành phẫu thuật tạo hình Xô Viết, khi đó đã 75 tuổi, nên có thể nói tôi là NCS cuối cùng mà ông hướng dẫn. Ông rất quý và tin tưởng tôi nên quyết định để tôi mổ. Bà bệnh nhân nọ không đồng ý, kiện lên giáo sư viện trưởng: bà ấy không tin một bác sĩ Việt Nam 30 tuổi có thể mổ cho mình một cách hoàn hảo. giáo sư Viện trưởng có đề nghị với giáo sư Mikhelson chọn người khác. Giáo sư Mikhelson kiên quyết bảo vệ quyết định của mình. Bà bệnh nhân kia rất bực mình. Bà ta dò hỏi khả năng của tôi qua các bệnh nhân trong khoa. Mọi người hết sức khen ngợi và bằng chứng sống động, thuyết phục nhất là bệnh nhân tặng ô tô cho tôi. Bà ta xin lỗi và vật nài tôi mổ. Lúc đầu tôi đã từ chối. Song trách nhiệm người thầy thuốc và phần nào lòng hăng hái của tuổi trẻ tôi nhận lời. Tôi xin định đây là một kỳ thi khó và cuối cùng tôi đã vượt qua. Một tháng sau, một phụ nữ sang trọng tìm đến gặp tôi ở ký túc xá. Bà ta chuyển tới tôi món quà của bà bệnh nhân kia. Trong chiếc hộp là một cái cốc rất đẹp khắc hàng chữ: Tặng bác sĩ Nguyễn Huy Phan món quà một nữ bệnh nhân đồng bóng. Tôi đã tặng lại món quà đó cho mẹ mình.
Nhờ những phẫu thuật rất thành công khi còn làm nghiên cứu sinh mà giáo sư đã được Bác Hồ gửi thư khen?
Đó là một chuyện rất bất ngờ, tôi lấy làm vinh dự và nhớ mãi. Tập thể nữ bệnh nhân ở bệnh phòng tôi phụ trách đã bí mật viết thư cho Hồ Chủ Tịch, cảm ơn Bác đã cử bác sĩ giỏi sang giúp đất nước Liên Xô. Đồng chí Bí thư Đảng Đoàn, Thứ trưởng Bộ Y tế theo ý kiến của Hồ Chủ tịch đã viết thư cho mẹ tôi nói Bác Hồ khen ngợi, động viên và nhắc nhở tôi làm tốt công tác chuyên môn. Tôi nhớ mãi những lời dạy của Bác và càng quyết tâm học hỏi hơn. Tôi vinh dự là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ y học tại Liên Xô.
Phẫu thuật thẩm mỹ có những điểm gần với phẫu thuật chỉnh hình. Tại sao nhiều học trò của giáo sư, ngay cả những người làm tại khoa và Trung tâm phẫu thuật chỉnh hình do giáo sư xây dựng dường như lại không muốn đề cập tới lĩnh vực này?
Theo tôi, nền móng của phẫu thuật thẩm mỹ là phẫu thuật tạo hình. Khi ta làm các phẫu thuật chung và đặc biệt là phẫu thuật trên vùng mặt là phải hết sức chú ý trọng đến khía cạnh thẩm mỹ. Đến một giai đoạn phát triển nào đó của xã hội phẫu thuật thẩm mỹ sẽ phát triển. Đối với các bác sĩ trẻ nếu chỉ chăm chăm vào phẫu thuật thẩm mỹ, tôi tin, tay nghề sau này của họ sẽ rất kém. Tất nhiên, ở khoa phẫu thuật hàm mặt ở bệnh viện 108, và Trung tâm phẫu thuật chỉnh hình Hà Nội chúng tôi đã tiến hành nhiều ca phẫu thuật thẩm mỹ.
Phẫu thuật thẩm mỹ là do người bệnh trả tiền, họ có quyền đòi hỏi làm đẹp theo ý mình. Đối với giáo sư đó họ có là Thượng đế?
Phẫu thuật thẩm mỹ, trước hết nó là phẫu thuật. Không thể nhầm lẫn mà đánh đồng nó với những xăm mắt, xăm môi, bơm ngực… Nó cũng có mối quanheej thầy thuốc bệnh nhân, chỉ có điều mục tiêu của nó là là đẹp mà thôi. Vì thế không thể coi nhẹ phẫu thuật thẩm mỹ. Phẫu thuật thẩm mỹ phải gắn với bệnh viện, với những trung tâm có đội ngũ phẫu thuật viên trình độ cao, trang thiết bị đầy đủ như bệnh viện. Thứ hai người bác sĩ phải có lương tâm, phải tư vấn cho bệnh nhân chứ không phải bất chấp mọi thứ đẻ làm đẹp theo ý muốn có thể sai lầm của bệnh nhân. Phẫu thuật thẩm mỹ là phẫu thuật trên người lành nên có sơ sảy thì nỗi ân hận sẽ lớn gấp nhiều lần.
Trong 50 năm cầm dao mổ, giáo sư có bị nỗi ám ảnh nào không?
Khi không thể làm được tốt nhất những điều mình có thể làm được.
Và cảm thấy bất lực?
Khi kiến thức, kinh nghiệm của người bác sĩ thì có mà thuốc men, phương tiện thì không.
Thưa giáo sư, ông có luôn tâm niệm một điều gì?
Thứ nhất, phải có lòng yêu thương bệnh nhân thật sự. Thứ hai luôn tôn trọng nghề nghiệp mà mình theo đuổi. Thứ ba, phải học học suốt đời.
Giáo sư là người thành đạt trong sự nghiệp. Điều đó có làm mất nhiều thời gian dành cho gia đình riêng của mình không?
Quả là tôi rất bận. Phần vì phải giữ những trách nhiệm như anh đã biết. Phần vì tôi vẫn phải hàng ngày học thêm chuyên môn, và ngoại ngữ. Một phần thời gian nữa tôi phải trả lời rất nhiều ý kiến tham vấn của đồng nghiệp, học trò và cả bệnh nhân nữa. Tôi có vợ là bác sĩ ngành huyết học đã về hưu. Tôi có ba con gái thì 2 đã theo học ngành y. Tôi biết sắp xếp công việc nên gia đình cũng không phàn nàn gì. Vả lại, bên những niềm vui của công việc tôi cũng được hưởng niềm vui hạnh phúc gia đình.
Xin cảm ơn giáo sư:
Phương Đông- Trí Thức Trẻ – số 20 – tháng 2 – 1997.

Giáo sư viện sĩ Nguyễn Huy Phan nói về công việc, về gia đình và bản thân – Phần 1

Gia nhập quân đội từ lúc tóc còn xanh với quân hàm Chuẩn úy, nay ông đang tại ngũ với cấp bậc Thiếu tướng. Song, ông còn nhiều niềm tự hòa khác, trong đời làm khoa học ông có 112 công trình đã được đăng trong các tạp chí khoa học có uy tín, báo cáo tại các hội nghị quốc tế trong và ngoài nước về lĩnh vực ngoại khoa chung, phẫu thuật tạo hình và vi phẫu thuật tạo hình… Ông còn là Phó chủ tịch Tổng hội Y – Dược học Việt Nam, Hội viên danh dự Hội phẫu thuật tạo hình Cuba, Hội viên danh dự hội vi phẫu thuật tạo hình Mỹ, Viện sĩ viện hàn lâm khoa học thế giới thứ 3, viện sĩ viện hàn lâm khoa học New York của Mỹ. Ngoài ra, giáo sư Nguyễn Huy Phan còn được trao tặng danh hiệu cao quý “Thầy thuốc nhân dân”, trong 12 huân chương được trao tặng vì những thành tựu khoa học kỹ thuật… Mọi người còn biết đến ông như một trong những người đầu tiên đưa kỹ thuật Laser vào y tế và là người mang lại nụ cười cho trẻ thơ bị tổn thương vùng hàm mặt.
Thưa giáo sư, những bước chân đầu tiên trên con đường y học và binh nghiệp của ông được bắt đầu như thế nào?
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Xếp bút nghiên tôi trở thành tự vệ khu phố Nhà Rượu. Vì còn là sinh viên năm đầu trường Y nên tôi được phân công làm cứu thương. Mặt trận mở rộng xuống khu vực Vân Đình – Hà Tây tôi vẫn làm công tác cũ ở một trạm y tế. Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp lúc đó thanh tra quân y thấy tôi còn ít tuổi nên đã động viên, giới thiệu tôi lên Chiêm Hóa – Tuyên Quang học tiếp. Năm 1948 tôi chính thức gia nhập sinh viên quân y. Năm 1951, tôi đạt được trình độ y sĩ cao cấp. Vừa học tôi vừa tham gia phục vụ chiến trường. Năm 1950 tôi tham gia chiến dịch Trung du và cũng là phẫu thuật viên độc lập. Năm 1953, tôi bắt đầu tham gia chiến dịch Điện Biên. Hòa bình lập lại, tôi giảng dạy môn giải phẫu tại đại học y khoa Hà Nội và trường Sĩ quan quân y: Tôi công tác tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ năm 1959 đến nay. Năm 1972 tôi tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Có thể nói cả đời tôi đều khoác hai bộ y phục truyền thống là blu trắng và quân phục.
Những thành tựu lớn nhất trong cuộc đời khoa học của giáo sư là trong lĩnh vực phẫu thuật tạo hình. Giáo sư tự mình lựa chọn đi theo hướng đó hay có ai gợi ý?
Phẫu thuật tạo hình là lĩnh vực làm tôi thích thú từ khi còn là sinh viên. Bản thân tôi cũng muốn những đường rạch, mũi chỉ phải đẹp đẽ. Muốn thế, trước khi mổ bao giờ tôi cũng tính toán xem các đường dao sẽ đi như thế nào, tôi phải chọn con dao thật sắc, sợi chỉ phải nhỏ, tôi chăm chút cho những đường dao, mũi chỉ. Như anh đã biết, các phẫu thuật của tôi thoạt đầu thường đi kèm với các vết thương chiến tranh. Cơ thể con người là một sự hoàn thiện, thế mà mảnh bom, viên đạn đã hủy hoại vẻ đẹp đó. Tôi thông cảm với nỗi đau của những thương binh ngay cả khi vết thương đã được chữa khỏi và muốn góp sức mình để không chỉ giữ lại sự sống, mà còn phục hồi chức năng, giữ lại những nét đẹp tạo hóa dành cho con người, làm vợi bớt nỗi đau của người thương binh nói riêng và người bệnh nói cung. Chính vì thế mà khi được chọn cùng 15 cán bộ khác sang Liên Xô học cố bác sĩ Vũ Văn Cẩn lúc đó là Cục trưởng quân y và giáo sư Tôn Thất Tùng có hỏi muốn học ngành nào tôi đã nói xin học phẫu thuật hàm mặt.
Giáo sư đã mang lại niềm vui cho mọi người, hẳn giáo sư cũng có niềm vui riêng của mình?
Niềm vui của bệnh nhân là niềm vui của tôi. Trong đời mình dù đã tiến hành hàng nghìn ca phẫu thuật tạo hình, thậm chí, với cả kỹ thuật phức tạp như tạo hình vi phẫu nhưng tôi vẫn nhớ ca mỗ vỡ lòng về tạo hình của mình. Năm 1949 khi đang thực tập ở một cơ sở ngoại khoa tại Trung giã – Phú Thọ có một ông lão bị trứng cá sần to bằng quả cam làm ông rất mặc cảm. Tôi lên phương án mổ, được giáo sư Tôn Thất Tùng thông qua, và tôi đã mổ thành công. Năm 1950, khi còn là Trưởng ban quân y ở Bộ tổng tham mưu một chị y sĩ cùng cơ quan có u mỡ ở vùng trán nhờ tôi mổ. Chẳng có sách vở nào dạy cho trường hợp cụ thể này đâu. Nhưng tôi cứ ngầm nghĩ và quyết định đặt dao ở phía lông mày, luồn dao bóc u. Vết sẹo nhỏ, đẹp và được giấu kỹ. Hai ca mổ ấy đã khuyến khích tôi rất nhiều và làm tôi càng quyết tâm đi vào lĩnh vực phẫu thuật rất xa lạ này ở Việt Nam.
Nghe nói giáo sư đã từng được một bệnh nhân Liên Xô tặng xe Mô xco vich.Thực hư chuyện này ra sao?
Khi còn là nghiên cứu sinh, năm 1958, tôi có mổ cho một nữ công nhân nhà máy sản xuất ô tô Mô xco vich. Bà ta bị một u máu sùi nửa mặt. Tôi đã mổ cắt u máu đó và lấy da đùi của bà ta vá lên mặt. Khuôn mặt của bà ta bình thường trở lại, trong ưa nhìn. Thế là nhân dịp nhà máy thưởng cho bà ta một chiếc ô tô Mô xco vich vì quá trình công tác xuất sắc bà ta tặng lại tôi. Tôi đã cảm ơn và tặng lại bà.
Phương Đông- Trí Thức Trẻ – số 20 – tháng 2 – 1997.

Linh tính

Đặc tính kỳ diệu trong tâm lý con người
Tôi còn nhớ vào một ngày cuối năm 1969, bà bác họ của tôi bỗng dưng kêu khóc thảm thiết. Bà nói với mọi người rằng đêm hôm trước bà nhìn thấy anh Tuyên (Tuyên là con trai một của bác tôi đang ở trong quân ngũ và ở chiến trường B máu me đầy người đi từ ngoài vào rồi ngã gục xuống giữa nhà. Suốt ngày hôm đó và những ngày tiếp theo, bác tôi không đi chợ bà bán hàng khô ở chợ, cũng chẳng thiết cơm cháo gì, chỉ khóc hoài). Mọi người trong họ đều cho rằng bác tôi, do quá nhớ thương anh con trai một của mình mà mộng mị rồi tưởng tượng ra như vậy, nên bảo nhau lựa lời khuyên giải và động viên bác. Nhưng mọi lời ngọt ngào, mọi tình cảm của họ hàng, của anh chị em đều vô hiệu. Bác tôi vẫn khóc lóc thảm thiết, không ăn uống mấy ngày liền… Nhưng rồi cũng như mọi việc vừa xảy ra trong cuộc đời, nỗi đau của bác tôi cũng như mọi việc vừa xảy ra trong cuộc đời, nỗi đau của bác tôi cũng dần dà nguôi ngoai theo năm tháng. Nhưng kỳ lạ thay, 8 tháng sau kể từ khi trong họ nhà tôi có sự kiện ấy, một hôm, đoàn cán bộ xã đến gặp bác tôi. Họ thông báo rằng anh Tuyên đã hy sinh trong một trận chiến đấu ở mặt trận Khe Sanh. Bây giờ, mọi người trong họ tôi mới nhớ đến sự kiện cách đó 8 tháng và thừa nhận rằng bác tôi có linh tính kỳ lạ. Các nhà khoa học cho rằng có 2 khía cạnh giúp ta hình dung rằng linh tính vụt lóe và linh cảm. Các ví dụ cổ điển về sự vụt léo lên Newton phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn vào lúc mà quả táo rụng vào đầu ông, Acsimet phát minh ra định luật lực đẩy khi ông đang tăm, Kê ku lê phát minh công thức của benzen khi thấy trong giấc mơ… Nhưng trong lịch sử cũng đã có những trường hợp linh tính về sự nguy hiểm sắp gặp phải mà trên lý học gọi đó là trạng thái alert sự báo nguy tức là linh tính chờ đón một hiểm họa nào đó. Do không biết giải thích tính chất này của tâm lý nên các người cho đó là trời báo. Những người duy tâm cho rằng linh tính, có đặc điểm không thử nghiệm được. Kant thấy rằng trong linh tính khả năng phi kinh nghiệm, nguồn gốc của mọi suy luận trên nghiệm. Một loạt các nhà duy tâm khác phủ quyết khả năng của lý trí, coi linh tính như một khả năng huyền bí thâm nhập vào bản chất của vạn vật. Nhưng chính từ thời Arixtot, người ta đã gọi linh tính là cội nguồn của khoa học. Sau đó đề các, Lepnich, Sponoda coi linh tính là phương thức nhận biết cao nhất, còn nhiều nhà bác học thì cho rằng nó là một dạng của quá trình suy nghĩ. Cho đến nay, cơ cấu tâm sinh lý của linh tính vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Tuy nhiên, người ta đã ghi nhận rằng sự vụt lóe không xảy ra nơi đòng không mông quạnh mà là kết quả của một quá trình tích lũy thông tin sau nhiều ngày đêm trằn trọc suy nghĩ. Ở đây đã diễn ra quy luật biến đổi lượng thành chất. Ở đây, bộ não dường như thu thập một khối lượng dữ liệu khổng lồ, đến nỗi đột nhiên con người xuất hiện ý nghĩ mới. Và có lẽ vì thế mà Newton chỉ cần một quả táo rơi trúng đầu, Acsimet từ một bồn tắm và Kakule thì từ một giấc mơ đã đủ làm nảy sinh một phát minh khoa học. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng không phải Acsimet cứ mỗi lần bước từ bồn tắm ra là có một phát minh và nhiều quả táo đã rơi đúng đầu người khác trong chúng ta nhưng không một phát minh khoa học nào nảy sinh ngoài… những vết bướu đầu. Kakule đã mô tả một cách tỉ mỉ giấc mơ nổi tiếng của mình rằng ông ta ngủ thiếp đi khi đang đọc một cuốn sách giáo khoa về hóa. Hơn chục năm ông đã từng đau đầu về vấn đề cấu trúc của benzen và đáp số ông đã thấy trong mơ. Có một số người cho rằng linh tính là cắt đứt dòng suy nghĩ logic. Đặc thù của linh tính là suy nghĩ đứt đoạn. Ý niệm về tính đứt đoạn là điều kiện cần thiết để có phát minh, được thể hiện trong một vài cuốn tiểu thuyết, điển hình là tiểu thuyết của D. Graneni, nhan đề đối đầu với bão táp. Một trong những nhân vật của tiểu thuyết này đã đưa ra những yêu cầu kỳ quặc cho một nhà khoa học:
Khá lười, không làm những gì thừa và phải bỏ qua mọi cái lặt vặt. Đọc ít thôi, ai đọc nhiều sẽ mất khả năng suy nghĩ độc lập. Không nên trước sau như một, làm sao phải quan tâm và thấy được những hiệu quả phụ, không quên mục đích chính. Đó là một chuyện nực cười. Nói về linh tính, phải khẳng định rằng nghiên cứu khoa học về hiện tượng này mới đang bắt đầu. Nhiều cơ chế của các quyết định linh tính chưa làm sao hiểu được rõ ràng. Cho đến nay, cũng không ai biết làm thế nào để phát triển linh tính và thâm chí xác định xem một vài chuyên gia nào đó được giới thiệu có đủ khả năng linh tính không. Rốt cục chỉ làm được 1 phần 2 trường hợp mà cũng không được chính xác cho lắm. Mặc dù vậy, tất cả những điều đã nêu trên đây không hề ảnh hưởng đến sự xuất hiện linh tính ở khắp mọi nơi và trong mọi lúc, cũng giống như không cần biết các phản ứng hóa học khi nấu nướng, nhưng từ muôn đời nay, người ta vẫn nấu ăn ngon vậy. Bằng con đường thực nghiệm, người ta chỉ có thể làm rõ một số điều kiện khi mà linh tính có hiệu quả nhất mà thôi.
Hà Khanh- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Nhân sinh người việt

Từ thuở hồng hoang xa xưa, khi con người còn phải đấu tranh sinh tồn với một thiên nhiên nghiệt ngã, khi con người còn phải đấu tranh với chính con người giữa các bộ tộc, để giành giật sự sống của bộ tộc mình, khi ấy sức mạnh chiến thắng thuộc về số đông và ông cha ta đã có ý thức rất cao về sự bảo tồn nòi giống. Quan niệm của họ là con trai càng đông thì sức mạnh của cộng đồng càng lớn. Để chiến đấu với thiên nhiên khắc nghiệt đầy thú dữ và chiến đấu chống lại sự tiêu diệt của các bộ tộc ngoại bang, cộng đồng Bách Việt tất phải đông. Đây là khởi nguồn của ý thức phồn thực của người tiền sử. Đó cũng chính là khởi điểm để người xưa sáng tạo ra các loại hình sinh hoạt tinh thần nhằm khích lệ sự duy trì và phát triển nòi giống. Đó là điệu múa cổ “Kin chiêng bóc mạy” của dân tộc Thái ở Thanh Hóa. Là điệu múa Pồn bông của người Mường. Là trò đánh đu ngày tết của dân tộc kinh. Hay là tục ăn trầu của người Việt có từ thuở các vau Hùng khai thiên lập địa. Tại xã Hoàng Phượng, Hoàng Hóa, Thanh Hóa, người ta đã đào được cả một bộ xoáy trầu bằng đồng cùng với giàn treo trống đồng. Tục làm bánh tét, bánh dì còn ghi lại tới ngày nay cũng hàm chứa nhân sinh quan của người xưa bánh tét biểu tượng cho thần sinh, là cha, bánh dì biểu tượng cho thần dưỡng là mẹ. Bát cơm thờ đặt trên quan tài người chết cũng hàm chứa một nhân sinh quan về Sinh – Dưỡng bát cơm in tượng trưng cho 2 bầu vú của người mẹ, que đũa bông tượng trong cho dương vật của người cha, quả trứng gà biểu tượng cho sự sinh sôi con đàn, cháu đống của bộ tộc. Cụm biểu tượng thờ người chết nói lên khát vọng dù đã sang thế giới bên kia vẫn mong muốn cho nòi giống của cha ông không bao giờ bị diệt vong. Trong rất nhiều tập tục của người xưa, có lẽ, rõ nét nhất về nhân sinh quan là Sinh – Dưỡng, hiện vẫn còn được duy trì là tục ăn trầu trong lễ cưới xin. Để hiểu rõ vấn đề này, xin hãy trở lại với một cổ vật là ông bình vôi. Vì sao không gọi là bà bình vôi? Trong khi các bà, các chị là những người nghiện trầu nhiều tới mức áp đảo giới mày râu? Xin thưa, ông bình vôi cũng chính là biểu tượng cho thần sinh dưỡng. Vòng quai bình Vôi tượng trưng cho cánh tay người đàn ông Thần Sinh 5 quả cau mỗi bên như 5 ngón tay người đàn ông say sưa ôm bầu vú người đàn bà. Trầu, cau, vôi là những vị thuốc làm nên chất men say cho nam nữ yêu nhau. Vì vậy trong đám cưới Trầu – cau là lễ vật quan trọng bậc nhất. Khi đón dâu, mân trầu cau của nhà trai được cha mẹ cô dâu, hoặc người cao tuổi đại diện nhà gái trân trọng dâng lên Tổ tiên, thắp hương xin ăn hỏi hoặc xin cho được đưa dâu. Tương tự như biểu tượng Trầu cau, Chày và Cối đối với một số dân tộc ít người ở mạn ngược, cũng là biểu tượng sinh dưỡng. Mỗi khi đón dâu về đến nhà chồng, cô dâu chú rể phải giã một cối gạo đã được chuẩn bị sẵn dưới chân thang rồi mới được phép bước lên sàn nhà. Người xưa thường tổ chức lễ hội vào tiết xuân. Mùa xuân là mùa lễ hội, cùng đồng thời là mùa cưới. Theo các cụ lúc cây cỏ đưa nhau đơm hoa kết trái, chính là lúc khí dương bắt đầu Vượng. Các trò chơi Xuân mang đậm quan niệm sinh dưỡng, chính là các cụ có ý răn dạy vào tiết Xuân mới nên thụ thai để đứa trẻ có cơ hội mang trong mình sức mạnh của khí trời đất, khả dĩ chống lại sự nghiệt ngã của thiên nhiên mà sinh tồn thịnh vượng. Điệu múa “Kin chiêng bóc Mạy” của người Thái là một ví dụ sinh động. Kin chiêng bóc mạy nghĩa là mùa xuân chơi hoa rừng. Điệu múa được chuẩn bị công phu, chu đáo. Người Thái chọn một số nhà có nhiều con cái, ăn ở đức độ giao cho việc gọt hoa măng trời biểu tượng cho thần Sinh. Hoa được gọt rất nhiều, với đủ mọi màu sắc, kết lại thành một cây hoa lớn. Người chủ trò chơi gọi là ông Trưởng phải là người có năng khiếu điều khiển toàn bộ cuộc vui. Ông Trưởng mặc áo đỏ, đội mũ đỏ biểu tượng cho sức mạnh của mặt trời thuộc dương khí. Vào lễ, ông Trưởng nằm phủ phục lặng lẽ trước cây hoa. Đoàn nhạc công gồm tiêu, sáo, khèn, cùng các vũ nữ múa hát đánh thức ông Trưởng dậy. Ông Trưởng mặt trời từ từ thức dậy và các trò vui mô phỏng các cảnh sinh hoạt săn bắn, hái lượm… lần lượt diễn ra. Trò chơi được dàn cồng và trống giữ nhịp trước kia chủ yếu dùng trống đồng, ngày nay được thay bằng trống da, khi tàn cuộc lúc chiều buông, ông Trưởng lại từ từ gục xuống phía bên kia của cây hoa. Và khi ấy, một cuộc vui mới được bắt đầu trai gái tự do dắt díu nhau vào rừng cặp đôi đã có người gọi trò chơi này là trò chơi Phồn thực. Mọi hoạt cảnh mà trò chơi đã mô phỏng từ săn bắn, hái lượm, làm nương, trồng lúa… đều dẫn đến cái đích duy trì sự sống mà đỉnh cao của tình yêu đôi lứa. Xuất phát từ ý tưởng sơ khai về nòi giống của người xưa, các bộ tộc Bách Việt đã đi tới một tín ngưỡng về Trời Cha – Đất mẹ.
Vong Thanh – Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.